Archive for the 'bai viet cua hoang thanh tam' Category

11
Jul
09

DỤC TÍNH TRONG ÂM NHẠC TRỊNH (Hoàng Thanh Tâm)

Gởi NS Tô Hải, nhà thơ Linh Phương, Agonboy, PV Hải, Khắc Huy, Hoàng Guitar, Bùi Hoàng Hải (Bỉ), Nguyễn Văn Rích, NC Viên, Đàm Xuân Lộ, Võ Đình Sơn, Trần Cảnh Mẫn và tất cả bạn hữu Pétrus Ký của tôi ….

“Tôi biết sức mạnh của ngôn từ…ngôn từ là tướng của đạo quân sức mạnh con người…” (Maiakovsky)

Tân nhạc cải cách Việt Nam chỉ thật sự được khai sinh từ năm 1930, và có thể xếp loại theo từng giai đoạn như sau:

1. Giai đoạn tượng hình (theo NS Trần Quang Hải) [1] 1930-1937
2. Giai đoạn thành lập 1938-1945 hay còn thường được gọi là dòng Nhạc Tiền Chiến
3. Giai đoạn kháng chiến 1945-1954
4. Giai đoạn 1954-1975 thời cực thịnh của nền tân nhạc tự do miền nam Việt Nam
5. Giai đoạn nhạc hải ngoại 1975 cho đến nay.

Trong khuôn khổ của bài viết theo chủ đề này, tôi chỉ xin đề cập đến dòng nhạc của 2 giai đoạn 1954-1975, và dòng nhạc từ 1975 cho đến nay. Chủ yếu là những sáng tác của những nhạc sĩ ở trong miền Nam sau năm 1954, và một số sáng tác ở hải ngoại sau 1975.

Trước khi đi vào bài viết này, tôi xin phép được lưu ý quý độc giả, là bài viết này chỉ mang tính cách là một bài phiếm luận. Không phải là một bài viết phân tích về giá trị nghệ thuật trong âm nhạc, hay một bài phê bình văn học. Tôi chỉ viết những gì thuộc về cảm tính của mình, với những hiểu biết khiêm tốn của một nhạc sĩ sáng tác. Xin những nhà nghiên cứu âm nhạc và những học giả uyên bác hãy lượng thứ cho những thiếu sót nếu có.

***

Không biết tôi có chủ quan hay mang nặng “dân tộc tính” trong suy nghĩ của mình không, khi nói rằng ngôn ngữ Việt Nam của chúng ta phong phú và kỳ diệu hơn ngôn ngữ …. Tây phương. Phong phú ở chỗ là khi muốn diễn đạt một ý tưởng hay một hình ảnh nào, chúng ta có thật nhiều từ ngữ và nhiều cách khác nhau, để nói lên được cho người khác hiểu điều mình muốn nói. Ngoài những phương pháp (thủ thuật) trong mỹ từ pháp như: nhân cách hóa, ẩn dụ, điệp ngữ, ngoa ngữ, thậm xưng, hoán dụ, đảo ngữ…Tiếng Việt còn những cách nói lái, nói mĩa, nói bóng gió, nói cạnh, nói khóe, nói ẩn dụ, nói “chặn họng”, nói cương, nói đãi bôi, nói điêu, nói lẫy vv….

Trong âm nhạc, cách sử dụng những từ ngữ để đặt thành lời nhạc, không thể học bằng lý thuyết, như môn giảng văn hay những môn khoa học…Ngay cả khi học về lý thuyết sáng tác trong âm nhạc, không ai có thể dạy cách đặt những ca từ như thế nào mới là đúng là hay cả! Những lời lẽ, hay ý tưởng để diễn tả cảm xúc vào bản nhạc, đều nằm trong cái năng khiếu sáng tạo, để tạo nên “hồn nhạc” của người viết nhạc. Và cái hồn nhạc này quyết định cho sự thành công hay thất bại của một bản nhạc.

Vì vậy để sáng tác một bản nhạc hay, làm rung động hồn người, người nhạc sĩ ngoài những kiến thức chuyên môn trong âm nhạc, cần phải có chiều sâu và sự nhạy cảm trong tâm hồn. Một khối óc thông minh, tinh tế và cảm thức thẩm mỹ, để có thể “thẩm định” một cách chính xác, cái đẹp của những giai điệu mình đã viết ra. Sao cho thính giả cũng cảm nhận được cái đẹp giống như người sáng tạo. Giai điệu đẹp, khi được chuyển tải bằng lời nhạc hay, viết ra từ những cảm hứng đích thực, sẽ tạo được một sự cộng hưởng, để mang lại sự rung động thật sự cho người thưởng ngoạn …. Những kỹ năng này đòi hỏi một khả năng thiên phú ở người nhạc sĩ. Vì nếu không, bản nhạc chỉ là một tập hợp những chuỗi âm thanh vô vị, và những từ ngữ thô thiển, sáo rỗng …

Đa số những nhạc sĩ nổi tiếng, đều có những sáng tạo ngôn ngữ riêng cho mình, bằng những từ ngữ mượt mà, trau chuốt trong những tác phẩm của họ. Chính cái ngôn ngữ tạo nên một thần thái riêng này, đã hình thành nên phong cách của từng nhạc sĩ. Những phong cách đó sẽ được khán thính giả đánh giá và thẩm định qua chính những tác phẩm của mỗi tác giả, tùy theo trình độ cảm nhận của người thưởng ngoạn. Trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài phiếm luận, tôi chỉ có thể đưa ra một số ví dụ của một vài nhạc phẩm, để minh họa cho sự sáng tạo phong phú của những nhạc sĩ, và sự khác biệt trong phong cách của họ.

Ví dụ khi người nhạc sĩ muốn diễn tả “sự phụ rẫy” của người tình. (Đề tài này có trong rất nhiều những bản nhạc sáng tác trong giai đoạn 1954-1975). Sự diễn đạt tâm trạng của mỗi tác giả thật vô cùng phong phú và đa dạng. Từ “chấp nhận” đến “than khóc”, đến “trách cứ”, đến “phẩn nộ”, đến muốn “trả thù” vv… Tựu chung, chỉ nói về cùng một đề tài là thất tình, nhưng mỗi tác giả lại diễn tả sự xúc cảm bằng “ngữ pháp” riêng của mình. Những ngôn ngữ này thể hiện trình độ diễn đạt và thái độ khác nhau của từng nhạc sĩ đối với cùng một sự kiện:

* … Sao em nỡ đành quên kỷ niệm chan chứa êm đềm
Sao em nỡ đành quên cho lòng này đau xót thêm…
(Sao em nỡ đành quên_Tô Thanh Tùng)

Thái độ của người bị phụ bạc trong nhạc phẩm của NS Tô Thanh Tùng là sự trách móc, than van, rồi khẩn nài như muốn níu kéo người tình trở về với mình, bằng một ngôn ngữ mộc mạc bình dị, không cần thi ngữ….

SAO EM NỠ ĐÀNH QUÊN – Trường Vũ

* “ … Em theo đời cơm áo.
Mai ra cùng phố xôn xao.
Bao nhiêu ngày yêu dấu tan theo
Ta ôm tình nặng trĩu
Nghe quanh đời mưa bão,
Ôi những ngày yêu dấu bọt bèo …”
(Yêu dấu tan theo_Trịnh Công Sơn)

Trịnh Công Sơn chấp nhận sự ra đi của người yêu, như một lẽ tự nhiên, không một lời oán trách, dẫu chỉ là một oán trách nhẹ nhàng. Tâm hồn ông bao dung và mênh mông như đất trời. Và cũng bởi ông đã từng quen với sự phụ rẫy của những người tình đã đi qua đời mình, với lời hẹn thề chỉ thoảng như gió bay, hay như những cơn mưa chợt đến rồi đi…“Từng người tình bỏ ta đi như những giòng sông nhỏ, ôi những giòng sông nhỏ, lời hẹn thề là những cơn mưa …” (Tình xa_Trịnh Công Sơn)

YÊU DẤU TAN THEO – Khánh Ly

* “ … Em xé đi linh hồn tôi đã bán
Em xé đi tim hồng tôi đã trao
Em, em xé đi cho nát tan một nụ cười
Cho chết đi một cuộc đời
Tình ta trót trao lầm …”
(Xé thư tình_Trương Hoàng Xuân)

Thái độ của người bị phụ tình trong bài “Xé thư tình”, có thể “thấy” được ngay ở cái tựa của bài hát. Tác giả tiếc nuối đã trao duyên lầm một “ác quỷ đầy quyền năng” và đã lỡ “bán linh hồn” mình cho “ác quỷ”. Vì vậy những lời oán trách kẻ phụ tình có vẻ “hằn học” hơn, chớ không nhẹ nhàng như Tô Thanh Tùng. Những ca từ cũng vay mượn nhiều mỹ từ pháp như thậm xưng, điệp ngữ, ẩn dụ, để diễn tả cõi lòng tan nát, khi người yêu đang tâm xé đi bức thư tình nồng cháy, như xé đi trái tim hồng của thi nhân…

XÉ THƯ TÌNH – Elvis Phương

* “ … Giết người đi! Giết người đi!
Giết người trong mộng đã bội thề
Giết người đi! Giết người đi!
Giết người quên tình nghĩa phu thê

…………………………………………………….

Làm sao giữ được người trong mộng
Để được tình yêu, dẫu bẽ bàng.
Giết người trong mộng?
Hay giữ người trong mộng?
Giết người trong mộng?
Hay giữ người mộng mơ? …”
(Giết người trong mộng_Phạm Duy & Hàn Mặc Tử)

Nhạc phẩm Giết người trong mộng của NS Phạm Duy, phổ từ thơ Hàn Mặc Tử, diễn tả sự đau đớn tột đỉnh của tác giả khi bị phụ bạc, ca từ với điệp ngữ “giết người”, được “phù thủy âm nhạc” Phạm Duy cố tình lập đi lập lại, trong suốt bài hát, để diễn tả sự uất hận nghẹn ngào… Niềm đau đớn, dày vò, đày đọa trong tâm thức người thi sĩ, là chỗ mâu thuẩn nội tâm, giữa yêu và hận, giữa cái sống và cái chết… Tác giả giục giã gào thét “giết người đi”, nhưng rồi lại hỏi lại chính mình: “Làm sao giữ được người trong mộng, để được tình yêu dẫu bẽ bàng…”

GIẾT NGƯỜI TRONG MỘNG – Hoàng Thanh Tâm (LIVE)

* “ …Anh trở lại, đây kỷ vật viên đạn đồng đen
Em sang sông cho làm kỷ niệm
Anh trở về, anh trở về trên đôi nạng gỗ
Anh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân
Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân
Bên người yêu tật nguyền chai đá …”
(Kỷ vật cho em_Phạm Duy & Linh Phương)

Nhạc phẩm Kỷ Vật Cho Em của Phạm Duy, được phổ từ bài thơ Để trả lời một câu hỏi của Linh Phương năm 1970, là một thông điệp thống thiết để đánh thức lương tâm nhân loại trước một chiến tranh ý thức hệ, đã hủy diệt hằng triệu người Việt của cả hai miền Nam Bắc. Bản nhạc chỉ đề cập đến thân phận nhỏ nhoi của đôi tình nhân trong chiến tranh, nhưng những câu trả lời của người lính, đang phải kề cận với từng giây phút của cái chết, là một ám ảnh khôn nguôi trong tâm thức của hàng triệu người Việt Nam, trong giai đoạn dầu sôi, lửa bỏng của quê hương những năm đầu thập niên 70 khi bản nhạc ra đời, và cả cho đến hôm nay…
Lời lẽ của người lính trong bài thơ của Linh Phương, là một chứng cớ hùng hồn, để nói lên sự bi thảm, và hệ lụy của cuộc chiến Việt Nam, đã biến những trái tim yêu thương trở thành điên đảo lạnh lùng, và loang lỗ những vết chai đá hận thù …

KỶ VẬT CHO EM – Thái Thanh

* “… Chiều qua ru em ngủ,
chiều nay em theo chồng,
thế hỏi lòng có buồn không?…”
(Tương tư 4_Mặc Thế Nhân)

TƯƠNG TƯ 4 – Sĩ Phú

* “… Mưa bên chồng có làm em nhớ
những khi mình mặn nông?… “
(Bài không tên cuối cùng_Vũ Thành An)

BÀI KHÔNG TÊN CUỐI CÙNG – Elvis Phương

Chỉ riêng Mặc Thế Nhân và Vũ Thành An đều chấp nhận sự ra đi của người yêu, không một lời oán trách, mà chỉ lặng lẽ ôm nỗi tiếc nuối cho riêng mình …

Trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn, hầu như những lời nhạc của ông đều mang đậm chất thơ. Ngoài những câu nhạc như thi ngữ, người nhạc sĩ tài hoa này đã có những sáng tạo ngôn ngữ vô cùng phong phú cho riêng ông, để diễn tả ý tưởng hay cảm xúc, với những hình ảnh thật nghệ thuật bằng chữ nghĩa. Những chữ nghĩa mà chúng ta không thể tìm thấy ở bất cứ cuốn tự điển tiếng Việt nào như:

“Tóc chiều” (Dấu chân địa đàng), “Vết lăn trầm”(Vết lăn trầm), “Mắt đêm đèn vàng” (Biển nhớ), “Con tinh yêu thương” (Một cõi đi về) , “Tuổi đá buồn” (Tuổi đá buồn), “Hồn xanh buốt” (Diễm Xưa), “Tình đã nghìn thu” (Còn tuổi nào cho em), “Đá ngây ngô” (Rồi như đá ngây ngô), “Đá lên trong mình” (Du mục), “Vết buồn khắc trên da” (Yêu dấu tan theo), “Phơi tình” (Cỏ xót xa đưa), “Quỳ gối vong nô” (Ru em), “Một hồn thơm cây trái” (Ru Tình) vv …

Những ca từ trong âm nhạc Trịnh Công Sơn, chưa kể tới những triết lý hay nhân sinh quan bàng bạc trong những câu nhạc của ông, đều mang một ngôn ngữ rất TCS. Những bài thơ lục bát, thơ đồng dao, thơ 4 chữ, thơ 5 chữ của một “thi sĩ” TCS, đã được lồng vào những giai điệu mượt mà trong những bản nhạc của ông, để trở thành những tuyệt tác làm mê hoặc lòng người. Nói một cách nôm na là nhạc sĩ TCS đã phổ nhạc những bài thơ của “một nhà thơ mang tên là Trịnh Công Sơn” [2], như lối ví von của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo. Hay có thể nói một cách không ngoa, nhạc sĩ TCS đã tạo được một trường phái âm nhạc mang tên nhạc Trịnh, bởi những nét đặc thù có một không hai của ông, trong một vài ví dụ điển hình như:

Trong bài “Chiều một mình qua phố” của Trịnh Công Sơn có câu:

“… Có khi nắng khuya chưa lên, mà một loài hoa chợt tím … “

Trong đó thay vì “nói” “có khi ánh trăng chưa lên, mà một loài hoa chợt tím”. Nhạc sĩ TCS đã thay thế chữ “ánh trăng” bằng một “ngôn ngữ” của riêng mình. Và nếu có nhạc sĩ nào muốn dùng chữ “nắng khuya” để ám chỉ “ánh trăng” thì ắt hẳn phải chịu khó mua lại cái “bản quyền sở hữu trí tuệ” của nhạc sĩ TCS …

Trong bài “Tình nhớ” với những “câu thơ” 5 chữ:

“… Ôi áo xưa lồng lộng
Đã xô dạt trời chiều
Như từng cơn gió lộng
Xóa một ngày đìu hiu ..”

TCS đã dùng thật nhiều mỹ từ pháp như nhân cách hóa, tượng hình, ẩn dụ, hoán dụ, thậm xưng … trong 4 câu nhạc trên, để diễn tả những cảm xúc hân hoan đang trào dâng trong lòng mình:

Chỉ với một tà “áo xưa” mà có thể “xô dạt” cả một trời chiều. Và cái “lồng lộng” của áo xưa, đã hóa thân thành những “cơn gió lộng” để xóa tan nỗi cô đơn, “đìu hiu” của TCS, khi người yêu bỗng nhiên trở về với ông không hẹn trước….

Ngoài một “thi sĩ” trong âm nhạc, TCS còn là một “họa sĩ”, một “nhiếp ảnh gia”, một “phóng viên chiến trường” tài ba, bởi ông đã “vẽ” và đã “chụp” được những bức chân dung thật lãng mạn, cho đến những hình ảnh não lòng của chiến tranh, bằng những rung động dạt dào, trong trái tim nhân ái tha thiết của ông:

“Yêu em quỳ gối vong nô…”
“…Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ”
(Ru em_Trịnh Công Sơn)

Hãy nhìn vào “bức tranh trừu tượng”, với hình ảnh một người đang “quỳ gối” để xưng tụng tình yêu, như một tín đồ ngoan đạo. Tín đồ đã “ngộ” ra lẽ kỳ diệu của tôn giáo mình đang tín ngưỡng, để bất chợt thấy lòng mình trở nên từ bi, và trái tim đã “nở hoa siêu độ”. [3]

Văn Cao đã gọi chính danh Trịnh Công Sơn là người ca thơ – để nói về các thi ca sĩ troubadour/minstrel – những sứ giả sống để phụng thờ và ca tụng tình yêu như là nguồn sáng cứu rỗi trong đêm trường Trung cổ. Một khoảnh khắc sống với quả tim yêu nồng nhiệt đáng giá hơn một trăm năm sống bằng quả tim khô héo, dù ngay cả khi ca tụng tình yêu bằng những bài tình ca không có hạnh phúc [4]


Hoặc hình ảnh sau đây:

“Em hôn trên tay mình
Để chua xót tình trần”
(Tôi ru em ngủ_Trịnh Công Sơn)

Còn hình ảnh nào đẹp hơn, lãng mạn hơn, thi vị hơn hình ảnh người con gái hôn lên tay mình để “chua xót tình trần”. Bởi vì bất cứ cuộc tình nào trong cõi trần gian đầy bi lụy này, đều không thể tránh khỏi những giọt lệ ngậm ngùi và chua xót bởi những chia cách, mất mát, đau thương, tan vỡ … Nhất là khi tình yêu đó mang những hệ lụy của một cuộc chiến phi lý:

“Tình yêu như trái phá con tim mù lòa…”
…………………………………………………………….
“…Tình yêu như vết cháy trên da thịt người”
(Tình Sầu_Trịnh Công Sơn)

Những hình ảnh thảm khốc của chiến tranh là một ám ảnh khôn nguôi trong tâm thức của người nhạc sĩ, và đã len lỏi vào trong từng ngỏ ngách sâu kín nhất của trái tim, khiến cho tình yêu cũng bị tàn phá và biến dạng. Nỗi “đau xé thịt” đã khiến “hồn mình như vá khâu”, và cuối cùng chỉ còn lại tan tác và hư hao trong “con tim tật nguyền” sau khi “cơn bão đi qua địa cầu” ……

Nếu “nhiếp ảnh gia” Linh Phương[5] “chụp” được tấm hình:

“Anh trở về hòm gỗ cài hoa” hay “Poncho buồn lịm kín đời anh”
(Kỷ vật cho em_Phạm Duy & Linh Phương)

Thì TCS lại “chụp” được những hình ảnh ghê rợn và bi thảm hơn, không phải tại chiến trường, mà ở ngay “trên con đường mòn” của những ruộng làng Việt Nam hiền hòa, thơ mộng:

“Một ngày mùa đông
Trên con đường mòn
Một chiếc xe tang
Trái mìn nổ chậm
Người chết hai lần
Thịt da nát tan”

Và có nỗi đớn đau nào hơn nỗi đau của người mẹ, khi phải tận mắt chứng kiến hình ảnh:

“Súng từ thị thành
Súng từ ruộng làng
Nổ xé da con
(Ngụ Ngôn Mùa Đông_Trịnh Công Sơn)

Hay tiếng “vỗ tay” như tiếng gào thét phẩn nộ từ thinh không của người mẹ mất trí bên xác con thơ, không biết có đủ để làm thức tỉnh lương tâm nhân loại?

“Mẹ vỗ tay reo mừng xác con,
Chị vỗ tay hoan hô hòa bình
Người vỗ tay cho thêm thù hận
Người vỗ tay xa dần ăn năn”
(Hát trên những xác người_Trịnh Công Sơn)

Những năm cuối thập niên 60 đến đầu thập niên 70, khi chiến tranh Việt Nam đang ở đỉnh điểm của những cuộc giao tranh. Phong trào sinh viên phản chiến lan tràn ở Mỹ với khẩu hiệu “Make Love Not War”, phong trào hippies, cộng với chủ nghĩa hiện sinh (Exstantialism) của Jean-Paul Sartre, Camus… du nhập vào Việt Nam, đã thổi một luồng gió mới vào cánh cửa văn học của Việt Nam, làm ảnh hưởng cách suy nghĩ cũng như lối sống của nhiều tầng lớp trí thức, điển hình là giới sinh viên, học sinh tại miền nam Việt Nam.

Sự nguy hại của thuyết hiện sinh cho giới trí thức trẻ Việt Nam là ở chỗ “ăn theo” những tư tưởng phản chiến, với thái độ bất cần, chán chường, “buồn nôn” trước những phi lý của cuộc đời vv … Trong khi đại đa số giới trẻ cũng chưa thật sự hiểu rõ ngọn ngành, hay kết cuộc của một chủ thuyết, sẽ đưa đến một kết quả gì cho tương lai, hay vận mệnh của đất nước mình. Họ chỉ đơn thuần nhắm mắt đi theo, chỉ vì tính thời thượng, và tính cách thích “nổi loạn” của tuổi trẻ thì đúng hơn!

Bối cảnh của đất nước trong giai đoạn này, đã tác động mạnh mẽ đến tư duy của những tác giả trong nhiều lãnh vưc, đặc biệt là những người cầm bút mang nặng ảnh hưởng của nền văn học lãng mạn Pháp và triết hoc Tây phương.

Trong lãnh vực âm nhạc, những sáng tác không chỉ đơn thuần diễn tả những cảm xúc tình yêu lãng mạn của đôi lứa, mà đã bắt đầu nhen nhuốm hơi hướng của thân phận con người. Mùi vị của thuốc súng, của bom đạn trong chiến tranh đã len lỏi vào trong âm nhạc qua phong trào du ca, và dòng nhạc phản chiến với Ca Khúc Da Vàng của NS Trịnh Công Sơn đã ra đời từ đó.

Ngôn từ được sử dụng trong những sáng tác âm nhạc, cũng từ đó mang tính đột phá. Và phải công nhận, những đột phá đó đã làm cho nền tân nhạc cận đại mang nhiều nét phong phú và độc đáo. Những bản tình ca của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương, Từ Công Phung, Vũ Thành An, Anh Bằng, Lam Phương, Trần Thiên Thanh, Nhật Ngân, Duy Khánh ….. sáng tác trong giai đoạn này đều bị ảnh hưởng bởi tác động của cuộc chiến, nên ca từ trong âm nhạc, không ít thì nhiều, đều mang không khí của chiến tranh. Đặc biệt trong một số tác phẩm, lại mang hơi hướng của tình yêu nhục tính, với những ngôn từ mới mẽ mang tính thời đại và táo bạo, để diễn tả tâm trạng tuyệt vọng, chán chường trong tình yêu, khi đối diện với sự ám ảnh của nỗi chết, hay sự phi lý của chiến tranh ….

Bài viết này không chỉ đơn thuần nói về khía cạnh dục tính trong âm nhạc Trịnh Công Sơn, mà còn muốn trích dẫn thêm một số “hình ảnh” trong những bản nhạc, để nói lên sự phong phú trong ngôn ngữ Việt, mà với tài năng thiên phú, những nhạc sĩ đã thể hiện một cách tài tình, khi diễn tả một hình ảnh trần tục bằng những ngôn từ thật thanh thoát…

Tôi có nêu một nhận xét riêng của mình với NS Phạm Duy về đề tài dục tính trong âm nhạc Việt Nam, với nguyên văn như sau: “Trong những bản nhạc nói về dục tính, cháu thích nhất là bài “Cúi xuống thật gần” của NS Trịnh Công Sơn và bài “Cỏ Hồng” của bác…” . Tôi nhớ là NS Phạm Duy đã im lặng, không tỏ thái độ gì với nhận xét này của tôi, nên tôi không biết là ông có đồng ý với lời nhận xét hơi đường đột của tôi hay không?

Quả thật vậy, trong suốt quá trình phát triển của nền âm nhạc Việt Nam, từ lúc tượng hình sơ khai cho đến ngày hôm nay. Và ngay cả những nhạc phẩm trong phong trào phản chiến của Mỹ, với khẩu hiệu nổi tiếng dành riêng cho cuộc chiến Việt Nam: “Make love not war”. Tôi chưa thấy một nhạc sĩ nào “dám” diễn tả thật đầy đủ, hình ảnh ân ái của đôi tình nhân, một cách rõ ràng và táo bạo như trong bản nhạc “Cúi xuống thật gần” của NS Trịnh Công Sơn.

Ở nhiều đoạn của bài hát, những hình ảnh trần trụi của cặp tình nhân đang “yêu nhau” trong “một sớm” mai, hay trong một “đêm mở hội âm thầm”, được phô bày như một bức chân dung lõa thể, qua một ống kính filter. Và sự thần sầu của cái filter, chính là cách sử dụng ngôn từ “thiên biến vạn hóa” của “phù thủy ngôn ngữ” Trịnh Công Sơn, đã cho thấy một hình ảnh nude rất nghệ thuật, và không hề có chút dung tục hay gợi dục…

Hãy lắng nghe những lời như :

“ …Cúi xuống cho tình dấy lên,
Cho da thịt mềm, cho cơn mặn nồng ngất lịm…”

Chữ “dấy” được dùng ở đây, hết sức tượng hình, khó có một chữ nào có thể thay thế được, để diễn tả hình ảnh hưng phấn, khi người tình “cúi xuống” thân thể mềm mại và nồng nàn của người con gái ….

Hay:

“ … Cúi xuống cho tắt nụ cười, cho chút da thịt người
Trong tan hoang vẫn còn bóng mát che ngang…”

Khi môi đã kề môi, thì nụ cười “mời gọi” sẽ tắt đi, để thay vào đó tiếng nói của sự im lặng trong hoan lạc của hai thể xác. Lúc đó ngôn ngữ không cần phải diễn đạt thành lời, mà vẫn có thể nghe được mỗi rung động trong từng nỗi xúc cảm … Thính giác đã trở nên dư thừa, để có thể nghe được tiếng nói của hai trái tim, đang rừng rực lửa yêu đương …. “People talking without speaking, People hearing without listening” [6].

Chữ “tan hoang” trong câu nhạc diễn tả sự trần trụi (nudity) và buông thả trong tận cùng thể xác người con gái, nhưng vẫn được “che chắn” bởi “bóng mát” ngợp trời của người tình, như một lời vỗ về dịu dàng cho tình yêu đôi lứa. …

Thử nhìn vào hình ảnh của người con trai:

“ …Cúi xuống nghe đời nhấp nhô
Nghe tim rạn vỡ Nghe trong tuổi nhỏ khóc oà …”

Động từ “nhấp nhô” (go up and down) trong câu nhạc trên, diễn tả rõ nhất hành động hoan lạc của đôi tình nhân. Những rung cảm trong từng phút giây ân ái, đã làm căng những sợi dây thần kinh xúc giác, và làm òa vỡ thành những giọt nước mắt của hạnh phúc, như niềm rung động đầu đời của những năm tháng tuổi thơ chưa một lần dậy sóng

“Cúi xuống
Cúi xuống thật gần
Cho tóc em bềnh bồng
Cơn đau anh vui lòng bóng mát trên cao”

Giọt nước mắt của hạnh phúc trộn lẫn với khổ đau cho một quê hương chinh chiến khói lửa, trong đó tuổi trẻ mang nhiều nỗi hoang mang cho thân phận mình, khi phải đối diện với những bất trắc và mất mát của chiến tranh. Cúi xuống “vùng non xanh mát” hay cúi xuống “trên bờ xót xa” thơm tóc em bềnh bồng, để quên đi ưu phiền trong phút chốc. Vì ngoài kia máu vẫn đổ, xương vẫn rơi, bom đạn vẫn đang mịt mù cày xới mọi miền của một quê hương trong khói lửa …Và 20 năm chinh chiến là 20 năm tuổi trẻ đã “no tròn tuổi biết đau thương”:

“Cúi xuống cúi xuống thật buồn
Cho nước sông cuồn cuộn
Hai mươi năm no tròn tuổi biết đau thương …”

Sự mê hoặc trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn là ở chỗ, người nghe không cần trình độ thưởng ngoạn âm nhạc cao, hay có thể chưa cần phải hiểu được một cách thấu đáo những ý tưởng, những hình ảnh ẩn dụ, trong từng lời nhạc của ông, vẫn có thể thấy bản nhạc hấp dẫn bởi giai điệu, với những quảng bốn, quảng năm gần gủi. Và khi phân tích sâu vào trong từng lời nhạc, hiểu được những tinh hoa, những ẩn dụ thật tài tình, “dấu” trong ngôn ngữ riêng của ông, thì sẽ càng thấy yêu thêm những nhạc phẩm đã thường nghe một cách chung chung..

Điển hình là trong nhạc phẩm “Cúi Xuống Thật Gần”, ông đã diễn tả được sự “tột đỉnh” của niềm hoan lạc (ejaculation), mà nếu chúng ta không “quan sát” kỹ lưởng, sẽ không bao giờ thấy được cái “thần sầu” trong cách diễn đạt ngôn ngữ của ông:

“…Cúi xuống
Nhìn sâu trong mắt
Và nghe mưa bão tan đi trong đại dương…

Ngôn ngữ Việt Nam của chúng ta phong phú và kỳ diệu nhất ở chỗ, nhiều khi chúng ta không cần phải dùng đúng nghĩa một ngôn từ, mà vẫn làm cho người nghe hiểu được chính xác điều chúng ta muốn bày tỏ…. Đó cũng là sự khác biệt giữa ngôn ngữ Đông phương và ngôn ngữ “thực dụng” Tây phương. Ví dụ trong những lời nhạc của Mỹ như:

“ … Let’s make love all night long, until our strength is gone…”
(Let’s make love_Green, Marv & Lindsey, Chris do Tim Mcgraw trình bày)

“… Me and you stay true never hesitate to make love?…”“I can hardly wait as we go through the motions, damn it’s great to make love?”
(Make Love do ban nhạc Big Bang trình bày)

Hay trong nhạc phẩm Casablanca qua giọng ca nồng nàn của Higgins Bertie với những câu như:

“ …Popcorn and cokes beneath the stars became champagne and caviar
Making love on a long hot summer’s night …”
(Casablanca_Souchon, Alain & Mac Neil Davis)

Nếu chúng ta dịch sát nghĩa những câu nhạc này sang tiếng Việt để hát lên, thì có thể sẽ bị mang tội “công xúc tu sĩ”. Hoặc nếu đang sống tại đất nước Việt Nam, sẽ bị kết tội truyền bá văn hóa “đồi trụy”, và có thể sẽ bị …“hỏi thăm sức khỏe” hay “mời” vào “trường phục hồi nhân phẩm” như diễn viên ….. Yến Vy!

Tuy nhiên, qua nghệ thuật sử dụng ngôn từ, cộng với sự thâm trầm, ý nhị của người Á Đông, những nhạc sĩ Việt Nam đã khéo léo diễn tả cũng những ý trên, với những lời lẽ rất ý nhị và thanh thoát:

* “…Cho tôi xin em như gối mộng,
cho tôi ôm em vào lòng. Xin cho một lần,
cho đêm mặn nồng, yêu thương vợ chồng …”
(Niệm Khúc Cuối_Ngô Thụy Miên)

NIỆM KHÚC CUỐI – Tuấn Ngọc

Hoặc:

* “ … Bao đêm cùng chăn cùng gối êm đềm…..
Ôi ái ân đâu rồi cơn tình ngất buông xuôi…”
(Trên Da Tình Yêu_Lê Uyên Phương)

TRÊN DA TÌNH YÊU – Thanh Hà

NS Hoàng Thanh Tâm cũng đã diễn tả sự mời gọi nồng nàn của người con gái, đi đến “đỉnh điểm” của niềm hoan lạc, trong âm nhạc của mình:

* “Người xin tìm đến bên chăn chiếu buồn
Làm cơn mưa tưới trên vườn hồn hoang”
(Cỏ lá xanh xao_Hoàng Thanh Tâm)

CỎ LÁ XANH XAO – Julie

Hay chỉ là những thể hiện tự nhiên của bản năng (basic instinct) trước tình yêu, để quên đi nỗi nhọc nhằn của phận người, trong một thế giới đã quên dần “tiếng nói yêu thương”:

* Cho nhau ngọt ngào chăn chiếu
Nghe đời nhọc nhằn trôi xa”
(Ru đời chỉ là mơ qua_Hoàng Thanh Tâm)

RU ĐỜI CHỈ LÀ MƠ QUA – Ý Lan

Trong nhạc phẩm “Cỏ Hồng” của Phạm Duy, với hình ảnh lãng mạn của đôi tình nhân, đã quen hơi nhau, và tình yêu đã “thôi khép nép”:

* “ … Cỏ không tên nằm thênh thang,
rồi vươn lên vì ta yêu nàng
Hỡi ôi con đồi ngoan ! Hỡi ôi cỏ hồng hoang!
Cỏ xanh đổi sắc theo nhân tình
Mặt trời cũng đứng soi tia lành
Cỏ hoang xao xuyến trên ngọn ngành
Đỏ như trong giấc mơ lung linh …”
(Cỏ hồng_Phạm Duy)

Cỏ xanh không tên, đã nóng lên vì ta “yêu” nàng và đổi thành hồng, rồi lại thành “đỏ như trong giấc mơ lung linh”, và cuối cùng đã biến thành cỏ “hồng hoang”, nơi mà con người “trần truồng yêu nhau trong trời đất” [7]…

CỎ HỒNG – Hoàng Thanh Tâm

Cả Phạm Duy lẫn Trịnh Công Sơn đều đã tô lên tác phẩm của mình một gamma màu nóng đỏ, như một điểm nhấn, để diển tả sự đam mê rạo rực, và nỗi khát khao tù đày của thân xác:

* “…Cúi xuống Trên bờ xót xa
trên cơn lửa đỏ, trên khuôn mặt đã im lìm…”

Nếu có một giải thưởng âm nhạc về nhạc phản chiến với chủ đề là “Make Love Not War”, thì thiết nghĩ có lẽ NS Trịnh Công Sơn sẽ là người xứng đáng nhất, để nhận giải thưởng này với tác phẩm “Cúi xuống thật gần”, bởi giá trị nghệ thuật, tính thẩm mỹ, tính văn học, và bởi nội dung thật “khít khao” với “chủ đề” trong nhạc phẩm độc đáo này, như nhận định của NS Phạm Duy trong hồi ký của ông, khi nói về NS Trịnh Công Sơn:

“Trịnh Công Sơn muốn nói lên nỗi đau con người trong cuộc sống hiện đại, có tình yêu, có chiến tranh, có hận thù, có cái chết dễ dàng như chết trong mơ. Anh ca tụng tình yêu và — cũng như bất cứ nghệ sĩ nào ở trên đời này — anh chống bạo lực và chống chiến tranh” [8]


TCS đã bày tỏ thật rõ thái độ của mình trước chiến tranh. Ước vọng của suốt một đời người, cho đến bạc đầu, là chờ đợi phút giây nhiệm mầu sẽ đến, để lấp đầy những khao khát của một trái tim biết đau thương, khi đứng trước những hoang tàn đổ nát trên quê hương của mình…
Hãy nghe lại những câu nhạc trong “Cúi xuống thật gần”, với những lời van xin tha thiết của ông, như một lời nguyện cầu sau cùng sau 20 năm chiến chinh khói lửa:

“Cúi xuống, cúi xuống thật gần.
Cho trái tim đập dồn

Cho đam mê thay vào đổ nát quê hương

…………………………………………………….

Cúi xuống, cho đến bạc đầu.
Trên phút giây nhiệm mầu

Hai mươi năm xin còn một sớm thương nhau”

CÚI XUỐNG THẬT GẦN – Khánh Ly

1) Cúi xuống
Cho máu ngược dòng
Cho nước sông cạn nguồn
Cho cây khô trên cành trút lá bơ vơ

Cúi xuống
Cho bóng đổ dài
Cho xót xa mặt trời
Cho da thơm trên người nay cũng phôi pha

Cúi xuống
Nghe đời nhấp nhô
Nghe tim rạn vỡ
Nghe trong tuổi nhỏ khóc oà

Cúi xuống
Trên bờ xót xa
Trên cơn lửa đỏ
Trên khuôn mặt đã im lìm

Cúi xuống
Nhìn sâu trong mắt
Và nghe mưa bão tan đi trong đại dương

Cúi xuống
Cúi xuống thật buồn
Cho nước sông cuồn cuộn
Hai mươi năm no tròn tuổi biết đau thương

Cúi xuống
Cho tắt nụ cười
Cho chút da thịt người
Trong tan hoang vẫn còn bóng mát che ngang

2) Cúi xuống
Cúi xuống thật gần
Cho trái tim đập dồn
Cho đam mê thay vào đổ nát quê hương

Cúi xuống
Cúi xuống thật gần
Cho chiếc hôn ngọt nồng
Cho trăm năm ưu phiền phút chốc hư không

Cúi xuống
Cho tình dấy lên
Cho da thịt mềm
Cho cơn mặn nồng ngất lịm

Cúi xuống
Cho đời lãng quên
Cho mây trời chìm
Cho đêm mở hội âm thầm

Cúi xuống
Vùng non xanh mát
Và cao tiếng hát cho cơn ưu phiền tan

Cúi xuống
Cúi xuống thật gần
Cho tóc em bềnh bồng
Cơn đau anh vui lòng bóng mát trên cao

Cúi xuống
Cho đến bạc đầu
Trên phút giây nhiệm mầu
Hai mươi năm xin còn một sớm thương nhau


Niềm mơ ước của NS Trịnh Công Sơn, vẫn là ước vọng của hàng triệu con tim Việt Nam hôm nay, bởi vì sự đổ nát của quê hương vẫn còn đó! Không phải từ bom đạn chiến tranh, mà là sự đổ nát toàn diện giữa niềm tin con người đối với con người. Sự đổ nát của lương tâm nhân loại, khi đứng trước những nỗi đau và bất hạnh của con người. Sự đổ nát trong băng hoại của những khối óc vô tri, của những trái tim vô cảm. Và sự đổ nát trong tâm hồn của những thế hệ mầm non, tuổi trẻ không được dạy những đạo lý làm người, để phân biệt giữa ĐÚNG_SAI, THIỆN_ÁC, HAY_DỠ, ĐẸP_XẤU …là những mất mát lớn lao nhất cho dân tộc Việt Nam, và là nỗi bất hạnh triền miên làm nung nấu những trái tim Việt Nam, đang khao khát một nền tự do, dân chủ, nhân ái, và công bằng thật sự cho quê hương …

NS Trịnh Công Sơn và biết bao tài năng nữa của đất nước, đã bị lợi dụng cho những mưu đồ chính trị bẩn thỉu, cũng chính bởi sự khao khát chính đáng này. Ước mơ về những “ảo vọng thiên đường” của một thiên tài âm nhạc trong ông, đã khiến ông phải mang “niềm tuyệt vọng” cho đến cuối đời mình!

LỜI TỰ SỰ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN – Trịnh Công Sơn

Chúng ta không “oán trách” thái độ “tiến thoái lưỡng nan” [9] của ông, bởi vì nghĩ cho cùng, ông chỉ là một người nghệ sĩ yếu đuối, đã thổ lộ tình yêu của mình với cuộc sống, và đã giữ được lòng chân thật với cuộc sống này. Và cũng chính ông đã “linh cảm” được trước những ước mơ trong suốt cuộc đời mình, chỉ là những “giấc mơ đời hư ảo”, (illusion) cũng như giấc mơ của biết bao văn nghệ sĩ của những thế hệ trước ông, đã bị “tàn lụi” trong đau đớn ngậm ngùi ….

Tuy nhiên, nếu không muốn làm kẻ vong ân, thì chúng ta phải biết tri ân những gì mà NS Trịnh Công Sơn, khi “ghé qua” cuộc đời này, đã để lại cho chúng ta những tặng phẩm vô giá, với hàng trăm “áng thơ” tuyệt tác, mà có người đã nhận định rằng, có thể đến 100 năm hay hơn nữa, chúng ta mới có được một tài năng, đem đến cho cuộc đời này những tặng phẩm như Trịnh Công Sơn đã ban tặng cho chúng ta.”

Riêng tôi, cũng xin được cảm tạ những “giấc mơ đời hư ảo” của ông. Bởi vì cũng chính nhờ vào đó, khi chúng ta không bằng lòng với thái độ “tiến thoái lưỡng nan”, là lúc chúng ta sẽ bước ra khỏi “những giấc mơ đời hư ảo”, để tiến đến những ước mơ có thật trong đời. “Ước mơ có thật”, chắc chắn sẽ thành hiện thực một ngày không xa. Bởi vì ước mơ đó không dựa trên một chủ thuyết nào, và cũng không dựa trên tham vọng của bất cứ một cá nhân hay quyền lực nào cả, mà chỉ là ước vọng chính đáng của cả một dân tộc với hơn 80 triệu người. Một dân tộc đã bị quá nhiều lầm than, điêu đứng và lừa dối bởi lòng tham của con người.

Xin hãy thắp lên một ngọn nến lung linh trong tâm hồn, để cầu nguyện cho những ước mơ có thật, và xin hãy nguyện cầu cho tình yêu trong trái tim của mỗi người trong chúng ta, sẽ mãi mãi là ngọn lửa yêu thương, thắp sáng tinh cầu chúng ta đang trú ngụ hôm nay…
Sài Gòn, một ngày tháng 7/2009
Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm

Chú thích:
[1] Trong bài Lịch sử Tân nhạc Việt Nam nhạc sĩ Trần Quang Hải gọi đây là “giai đoạn tượng hình”. Còn nhạc sĩ Phạm Duy cho rằng những năm đầu thập niên 1930 là “thời kỳ đi tìm nhạc ngữ mới” (Nguồn: Wikipedia tiếng Việt : Tân Nhạc Việt Nam)

[2] Tựa đề một bài viết về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, đăng trên báo Văn Nghệ ngày 23/08/2002

[3] Trích từ câu thơ: “Nước mắt em trên chánh điện tình, nở hoa siêu độ hóa tâm kinh” trong bài thơ: “Vì em tôi đã làm sa di” của thi sĩ Du Tử Lê

[4] Trích đoạn bài viết “Chiêm ngắm đóa hoa vô thường” của tác giả Hà Vũ Trọng, Toronto 2.5.2001
in trong Hợp Lưu, số 59 (tháng 6-7/2001), tr. 16-28.

[5] Linh Phương, nhà thơ quân đội, tác giả bài thơ “Để trả lời một câu hỏi”, đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành ca khúc nổi tiếng “Kỷ Vật Cho Em” vào năm 1970

[6] Trích đoạn lời bài hát “The sound of silence” của Simon & Garfunkel

[7] Câu nhạc trích từ nhạc phẩm “Hạ Hồng” của nhạc sĩ Phạm Duy

[8] Trích trong hồi ký Phạm Duy III, thời phân chia Quốc – Cộng

[9] Tựa đề một nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn sáng tác khoảng năm 1998

Advertisements
27
Jun
09

Đường Em Đi – HOÀNG THANH TÂM và kỷ niệm với nhạc sĩ PHẠM DUY

Lẽ phải luôn là lẽ phải ngay cả khi bị mọi người chống đối; lỗi lầm luôn là lỗi lầm ngay cả khi được mọi người đồng tình — Right is right, even if everyone is against it; and wrong is wrong, even if everyone is for it.
William Penn

Hôm qua tình cờ đọc được một bài viết với tựa đề “Phạm Duy và những điều cần phải nói” của tác giả Khánh Thi trên trang blog của Hoàng Guitar . Trong đó có đăng lời nhận xét của 3 vị chức sắc trong hội âm nhạc Việt Nam nói về liveshow “Ngày trở về” của nhạc sĩ Phạm Duy, cộng thêm bài viết phản hồi của một người có nickname là Thầy Giáo Làng, và một số chi tiết bổ xung của nhạc sĩ Tô Hải , tác giả cuốn sách nổi tiếng “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn”, (Click to DOWNLOAD) đã được tủ sách Tiếng Quê Hương ở Virginia, Hoa Kỳ phát hành ngày 13/06/2009.

Sau khi đọc xong bài này, tôi đã viết một entry để nói lên ý kiến và cảm nghĩ của mình về đề tài này. Bài entry viết xong, chuẩn bị post lên blog của mình thì bà xã tôi vô tình đọc được, và khuyên tôi không nên đăng bài viết này lên, vì cô ta biết rõ tính tôi rất hay “bức xúc” với những điều “trái tai gai mắt”, và cũng vì muốn cho diễn đàn văn nghệ của NS Hoàng Thanh Tâm được “bình yên” và “sống sót” để tiếp tục “rêu rao” những “lời tình buồn” của mình cho những khán thính giả thân thương ……

Tôi đã cố “dằn lòng” suy nghĩ và cuối cùng quyết định làm một “thằng hèn”, để có thể bình yên tiếp tục với công việc “văn nghệ” của mình. Tôi đã tự “an ủi” mình là nếu được làm “thằng hèn” như nhạc sĩ Tô Hải, thì cũng đáng!

Sau khi đọc xong một phần trích đoạn trong tác phẩm “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn” của nhạc sĩ Tô Hải, tôi đã vô cùng kính trọng “thằng hèn” trong tác phẩm này! Kính trọng vì LÒNG CAN ĐẢM và lòng TÔN TRỌNG SỰ THẬT của tác giả “Nụ Cười Sơn Cước”. Một sự nghịch lý chưa bao giờ xảy ra trong cuộc đời tôi : KÍNH TRỌNG MỘT THẰNG HÈN, vì tôi là người rất “dị ứng” với sự hèn hạ của con người!

Để “giải tỏa” những “mâu thuẩn nội tại” của mình, tôi xin được post một đề tài chỉ hoàn toàn mang tính văn nghệ là : “Hoàng Thanh Tâm và kỷ niệm với nhạc sĩ Phạm Duy

Để tưởng nhớ bố Philip và kỷ niệm với NS Phạm Duy

Năm 2003, nhân dịp nhạc sĩ Phạm Duy cùng cả nhóm “bầu đoàn thê tử”(không có “thê”) của ông gồm Duy Quang, Tuấn Ngọc, Thái Hiền, Thái Thảo … sang Úc để trình diễn ở Sydney. Người “bạn già” Philip của tôi, một nhà báo lão thành mà tôi gọi bằng bố, người rất thân thiết và biết rõ thân phụ tôi là ông Hoàng Cao Tăng, đã mời riêng nhạc sĩ Phạm Duy đến tư gia của tôi ở Yagoona, Sydney.

Nhạc sĩ Phạm Duy


Tôi đã gặp NS Phạm Duy ngoài đời nhiều lần ở Mỹ, khi đến tư gia của ông ở Midway City, chỗ mà ông hay thích gọi là “thị trấn giữa đàng”, nơi tôi đã đưa nhạc cho Thái Hiền tập, để thu âm cho những nhạc phẩm “mới toanh” của tôi, trong đó có bài “Tháng Sáu Trời Mưa”. Ca sĩ Thái Hiền rất “chảnh”, cô mở ra xem hết những bản nhạc tôi muốn mời cô thu âm, đọc hết từng lời nhạc, rồi mới “đồng ý” nhận lời thu âm cho tôi (Đúng là con gái Phạm Duy! Không phải trả tiền là nhạc nào cũng hát!).

Cũng may cho tôi là đã “trao duyên”, không phải, “trao nhạc” đúng người, cho nên những nhạc phẩm Thái Hiền đã thu âm cho tôi, tôi đều cảm thấy thật “hài lòng”…. Có một điều mà cả tôi lẫn Thái Hiền đều không ngờ trước được là sự thành công vượt bực của “Tháng Sáu Trời Mưa”, sau khi cuốn băng nhạc “Khúc Nhạc Sầu Cho Em”, tình ca Hoàng Thanh Tâm 2 được phát hành rộng rãi ở Mỹ….

Kể từ đó tình khúc “Tháng Sáu Trời Mưa” của tôi và thi sĩ Nguyên Sa đã gắn liền với tên tuổi của Thái Hiền, và là nhạc phẩm luôn ở trên môi cô ái nữ của nhạc sĩ Phạm Duy, mỗi khi cô đi show trình diễn ….

“Đêm của Hiền” với “Tháng Sáu Trời Mưa” tại Nhà Hát thành phố 30/11/2006


Gặp lại NS Phạm Duy 16 năm sau tại ngay nhà của mình ở Sydney, cảm tưởng đầu tiên của tôi là “bố già” vẫn “sung mãn” như ngày nào trong chiếc áo blouson đỏ, dù mái tóc đã bạc phơ… Chỉ tiếc là những tấm hình kỷ niệm tôi chụp chung với 2 bố già, lại nằm trong cái computer của một “ác quỷ đầy quyền năng”, mà sau này khi tôi muốn “xin” lại, thì “ác quỷ” nói rằng đã bị “thiêu hủy theo lòng tin si” trong cái computer mất rồi?!!

Duy Quang và Hoàng Thanh Tâm tại cafe Tháng 6 năm 2004


Nhạc sĩ Phạm Duy có thể đã gây ra những điều tiếng thị phi, hoặc sai lầm, thậm chí … gian dối như chính ông đã thú nhận với cuộc đời:

… Với bao nhiêu lần gian dối
Đời vẫn ban cho ngọt bùi…Tạ ơn đời P.D

Vì dù sao ông chỉ là một người với đầy đủ hỉ, nộ, ái, ố, của một con người trong cõi trần gian đầy tục lụy này. Tuy nhiên, khi tiếp xúc với ông, tôi nhận thấy ông có một đức tính mà không phải ai cũng có được, đó là ông biết quý trọng những tài năng thật sự, và không quên ơn những người đã giúp đỡ ông thuở hàn vi.

Trong căn phòng khách ấm cúng và yên tịnh, sau khoảng nửa tiếng trò chuyện cùng tôi, ông bỗng đứng dậy ngồi vào bàn computer, loay hoay một hồi, rồi ông kêu tôi lại và chỉ vào tấm ảnh của thân phụ tôi chụp chung với 2 người nữa là NS Nguyễn văn Lý và Jean Varnoux trên màn hình vi tính, và “khoe” với tôi rằng “đây là hình bố cháu trong hồi ký của bác”.

Hoàng Cao Tăng Nguyễn Văn Lý Jean Varnoux


Xin trích một đoạn trong hồi ký 3, chương một của NS Phạm Duy khi nói về thân phụ tôi, ông Hoàng Cao Tăng, chủ sự của Đài Phát Thanh Pháp Á thời bấy giờ:

“ … Giám Đốc Đài Pháp-Á là Jean Varnoux, người Pháp trí thức đầu hói, đối xử rất lịch sự với một cựu Việt Minh là tôi. Đó là nhờ anh bạn Hoàng Cao Tăng, chủ sự chương trình, tuy làm việc cho Pháp nhưng vẫn quý trọng những người đi kháng chiến, luôn luôn đề cao tôi với Varnoux. Anh Tăng hơn tôi 10 tuổi, tuy đã có hai vợ mà vẫn còn làm đỏm. Anh đúng là thứ công tử bột Hà Nội còn sót lại, quần áo bảnh bao, tóc dài như tóc triết gia (dân Hà thành gọi là kiểu tóc philosophe-triết gia) luôn luôn chải mượt, mặt không đánh phấn nhưng trước khi đi ngủ, anh bôi kem để giữ cho da dẻ được tốt tươi.
Đài Pháp-Á là cơ quan thông tin tuyên truyền của Pháp nhưng không bao giờ tôi bị ép buộc phải lên tiếng về chính trị. Tôi không hề phải đề cao những con bài quốc gia mà Pháp đang đưa ra lúc đó hay chửi bới Việt Minh một cách hạ cấp….”

Để đáp lại tấm thịnh tình của NS Phạm Duy, tôi không biết phải làm gì, nên đã liều lỉnh mở dàn máy vi tính cho ông nghe nhạc phẩm : “Đường em đi” của ông, mà tôi vừa thâu xong tại nhà. Thật may mắn cho tôi, ông không chê giọng hát “tài tử” của tôi mà còn khen là “có nét lắm!” và hỏi có phải tôi là người hòa âm cho bản nhạc này. Tôi đã trả lời với NS Phạm Duy là nếu tôi hòa âm được như vậy thì tôi đã … “giàu” như nhạc sĩ Tùng Châu rồi chớ không nghèo như bây giờ!

Xin mời các bạn thưởng thức nhạc phẩm “Đường Em Đi” của NS Phạm Duy qua tiếng hát của một người không phải là ca sĩ, với tấm lòng độ lượng ……

NS Phạm Duy là một nhạc sĩ mà chữ “nổi tiếng” dùng cho ông đã trở nên quá thừa thải! Tôi không đề cập đến những thương yêu hay ghét bỏ của nhân gian, khi nói về NS Phạm Duy, hay những gì thuộc về “con người” rất “người” của ông. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến một điều mà trong tất cả chúng ta, dù thương yêu hay ghét bỏ, cũng không thể phủ nhận được là : với hơn 1000 tác phẩm đã sáng tác, trong đó có hàng trăm bản nhạc giá trị ở đủ mọi thể loại, kể cả những nhạc phẩm ngoại quốc đã được dịch sang lời Việt … Ông đã để lại một gia tài văn hóa đồ sộ cho nền âm nhạc Việt Nam, không những của riêng Phạm Duy mà còn là một di sản văn hóa chung của cả một dân tộc với hơn 83 triệu dân. Xin mượn một câu trong bài viết của Thầy Giáo Làng để kết thúc bài viết này :

… Thiết nghĩ việc đánh giá công hay tội của một con người là một việc của lịch sử, không cá nhân nào được phép nhân danh lịch sử để lên án, bôi nhọ người khác….

Và trong khi chờ đợi sự phán quyết của lịch sử, chúng ta hãy thụ hưởng và tri ân những công trình tim óc của một thiên tài đã dành hết cuộc đời của mình cho tình yêu và âm nhạc, và là chứng nhân qua bao giai đoạn lịch sử thăng trầm thấm đẩm nước mắt và xương máu của dân tộc Việt Nam.
Sài Gòn, cuối tháng 6/2009
Hoàng Thanh Tâm

23
Apr
09

Thưởng thức "THÁNG SÁU TRỜI MƯA" với ……. 40 ca sĩ !

Tình Khúc “THÁNG SÁU TRỜI MƯA” của Hoàng Thanh Tâm là bài hát được ca sĩ thu âm cũng như trình diễn nhiều nhất trong suốt 3 thập niên qua! Nhạc phẩm này đã gắn liền với tên tuổi của nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm, và cho đến hôm nay vẫn là bài hát được yêu thích nhất trong nước cũng như ở hải ngoại.

Mời các bạn thưởng thức nhạc phẩm “TOP HIT” này qua phần trình bày của……. 40 ca nhạc sĩ. Các bạn có thể bình chọn ca sĩ nào mình yêu thích nhất, bằng cách gởi tên ca sĩ vào comment của bài viết này, cùng với địa chỉ email của mình. Chúng tôi sẽ gởi tặng lại cho các bạn những nhạc phẩm với ca sĩ bạn yêu thích nhất qua email của bạn.

Playlist THÁNG SÁU TRỜI MƯA: (Full length in-site)

01. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Thái Hiền
02. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Tuấn Anh
03. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Hải Lý
04. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Vũ Khanh
05. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Thanh Hà
06. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Duy Quang
07. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Khánh Hà
08. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Hoàng Thanh Tâm (Karaoke Version)
09. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Hà Thanh Lịch
10. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Thái Châu
11. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Ngọc Lan
12. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Don Ho
13. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Ý Lan
14. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Nguyễn Hưng
15. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Ngọc Bích
16. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Đàm Vĩnh Hưng
17. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Hương Lan
18. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Thái Châu
19. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Phi Khanh
20. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Hoàng Thanh Tâm (Studio Version)
21. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Xuân Sơn
22. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Thanh Long Bass
23. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Lan Thanh
24. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Ngọc Sơn
25. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Carol Kim
26. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Khuyết Danh
27. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Thúy Vi
28. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Tuấn Vũ
29. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Julie
30. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Xuân Phú
31. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Thúy Hương
32. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Quang Hà
33. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Thanh Tuyền
34. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Hồng Ân
35. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Karaoke giọng nữ
36. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Thụy Vũ
37. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Khánh Duy
38. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Hoàng Thanh Tâm Solo Guitar
39. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Hòa tấu Alto Saxo Đình Thanh
40. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Hòa tấu guitar Vĩnh Tâm
41. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Hòa tấu Saxo Cao Đức
42. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Độc tấu guitar Hoàng Minh
43. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Hòa tấu piano Harold Mann
44. THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Hòa tấu guitar Vô Thường

Chú ý:
Có một số bài bạn phải click vào hàng chữ “play full song here” ở ngay dưới tựa đề để nghe được trọn bài hát ở một trang khác.

Hoang Thanh Tam’s most popular song
of the last 3 decades performed by 40 various artists !
16
Apr
09

THÁNG SÁU TRỜI MƯA – Hoàng Thanh Tâm – TÁC PHẨM ĐỊNH MỆNH


Đây là bản tình ca đã gắn liền với cuộc đời sáng tác của tôi. Và cũng là nhạc phẩm gây nhiều ngộ nhận nhất! Vì không phải ai cũng biết đúng tên tác giả của bài hát này.

Năm 1987, khi vẫn còn sinh sống tại thủ đô Canberra ở Úc. Một buổi chiều cuối tuần tháng sáu êm ả, tôi lang thang vào thư viện Quốc Gia (National Library), và bất ngờ tìm thấy tập thơ Nguyên Sa, quy tụ những bài thơ tình tôi và những bạn trung học Pétrus Ký đã chuyền tay nhau trong lớp để cùng đọc…

Những kỷ niệm thời hoa mộng bỗng dưng hiện về tràn ngập trong ký ức tôi, với biết bao nhớ thương, tiếc nuối của một thời áo trắng sân trường. Tôi đã photocopy bài “Tháng Sáu Trời Mưa” của Nguyên Sa trong tập thơ và mang về nhà để nghiền ngẩm.

Trong niềm cảm xúc dâng trào của đêm mưa tháng sáu tại Canberra, từ trong căn hộ nhỏ bé dành cho người độc thân(Bedsitter) ở O’Connor, tôi đã trải lòng mình bằng những note nhạc chứa chan kỷ niệm của một thời niên thiếu, qua những vần thơ của thi sĩ Nguyên Sa, để rồi từ đó, tình khúc “THÁNG SÁU TRỜI MƯA” đã ra đời…

Nhạc phẩm này nằm trong Album tình ca HOÀNG THANH TÂM 2, gồm 12 tình khúc mang chủ đề: “KHÚC NHẠC SẦU CHO EM”, phần hòa âm & phối khí của nhạc sư Lê Văn Thiện, do trung tâm Giáng Ngọc phát hành tại Hoa Kỳ năm 1987.

Theo một thông lệ bất thành văn, những nhạc phẩm nổi tiếng thường thường phải được những ca sĩ hàng đầu và tên tuổi lừng lẩy như : Thái Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu, Tuấn Ngọc vv… thâu âm ĐẦU TIÊN.

Thật may mắn cho tôi, dù Thái Hiền không phải là một ca sĩ đang ăn khách lúc đó, nhưng cô đã giúp tôi chắp cánh cho bài hát bay thật xa, được phổ biến sâu rộng trong quần chúng, để trở thành một trong những nhạc phẩm bất hủ trong kho tàng âm nhạc Việt Nam.

Xin mời các bạn thưởng thức “THÁNG SÁU TRỜI MƯA” với tiếng hát Thái Hiền, ca sĩ ĐẦU TIÊN thu âm bài này, qua những vần thơ tuyệt trác của Nguyên Sa và nét nhạc Hoàng Thanh Tâm:

Written by : HOÀNG THANH TÂM & NGUYÊN SA
Performed by : THÁI HIỀN
Arrangement : LÊ VĂN THIỆN
Recorded at : ASIA STUDIO
Mixed by : JOHN TOMLINSON
Starring : SHU QI & KAREN MOK
*Album CD : “KHÚC NHẠC SẦU CHO EM” (Tình Ca HOÀNG THANH TÂM 2)- GIÁNG NGỌC 68
*Published by GIANG NGOC Music Centre 1987
© Copyright in USA by HOANG THANH TAM 1987.
Vietnamese Song/Chansons Vietnamiene/Vietnamesisches Lied/Nhac Viet Nam/Vietpop/vpop/Vietnam/Viet Love Song
@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@

Tháng sáu trời mưa trời mưa không dứt
trời không mưa anh cũng lạy trời mưa
anh lạy trời mưa phong kín đường về
và đêm ơi xin cứ dài vô tận

Mình dựa vào nhau cho thuyền ghé bến
sưởi ấm đời nhau bằng những môi hôn
mình cầm tay nhau nghe tình dâng sóng nổi
hãy biến cuộc đời thành những tối tân hôn

Da em trắng anh chẳng cần ánh sáng
tóc em mềm anh chẳng thiết mùa xuân
trên cuộc đời sẽ chẳng có giai nhân
vì anh gọi tên em là nhan sắc

Anh vuốt tóc em cho đêm khuya tròn giấc
anh sẽ nâng tay cho ngọc sát kề môi
anh sẽ nói thầm như gió thoảng trên vai
và bên em tiếng đời đi rất vội

Tháng sáu trời mưa trời mưa không dứt
trời không mưa em có lạy trời mưa
anh vẫn xin mưa phong kín đường về
anh nhớ suốt đời mưa tháng sáu…
Category: Music Video

Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm in USA 1987,
lúc “Tháng Sáu Trời Mưa” vừa được phát hành.
Ngay lập tức, bài hát được thính giả khắp nơi đón nhận nồng nhiệt!
(Photo by kịch sĩ Nguyễn Long)

05
Apr
09

Tác Giả THÁNG SÁU TRỜI MƯA là ai?

Trong những năm gần đây, khi kỹ thuật ứng dụng trong công nghệ máy tính và internet đã lên đến đỉnh cao nhất của thời đại, thì những thông tin trên mạng giữ một vai trò rất quan trọng trong việc truyền bá văn hóa cũng như tư tưởng đến với đại đa số quần chúng trên toàn thế giới! Và chính sức mạnh lan truyền toàn cầu của internet đã giúp cho con người nắm bắt được hết những thông tin cần biết trên mọi lĩnh vực, và sự tiện ích này cũng gây nhiều tai hại, nếu những thông tin đưa lên mạng không chính xác, kéo theo nhiều ngộ nhận và thắc mắc cho độc giả.

Trong lĩnh vực âm nhạc, những thông tin về xuất xứ của một tác phẩm nghệ thuật, nhất là tên tuổi của những nhạc sĩ sáng tác, thường xuyên bị nhầm lẫn. Khi người đầu tiên đưa thông tin lên mạng không nắm vững xuất xứ của bản nhạc, thường kéo theo những thông tin sai lệch khác, ngay cả trên những cơ quan truyền thông lớn có số lượng truy cập cao!…


Trong điều kiện hạn hẹp của trang web cá nhân này, chúng tôi chỉ muốn đưa ra một số ví dụ điển hình của riêng cá nhân tôi, để khán thính giả yêu nhạc có cái nhìn chính xác và cụ thể hơn về xuất xứ và trường hợp sáng tác của những nhạc phẩm đã được phổ biến sâu rộng trong quần chúng:


Có nhiều người ở Việt Nam cũng như hải ngoại lầm tưởng nhạc phẩm “Tháng sáu trời mưa” phổ thơ Nguyên Sa do ca sĩ Thái Hiền đầu tiên trình bày là sáng tác của NS Ngô Thụy Miên?!!! Thật sự thì NS Ngô Thụy Miên cũng có phổ nhạc bài thơ này của thi sĩ Nguyên Sa vào năm 1984. Nhưng khi bản phổ nhạc của Hoàng Thanh Tâm ra đời năm 1987 và tạo thành một hiện tượng, thì xảy ra sự lẫn lộn tên tác giả giữa 2 nhạc phẩm cùng tựa này!

Nói rõ hơn là có một số người khi “nghe” và “hát” bài “Tháng Sáu Trời Mưa bản phổ nhạc của Hoàng Thanh Tâm thì cứ khăng khăng cho rằng tác giả là Ngô Thụy Miên (Vì NTM cũng phổ nhạc bài này!). Và cũng ít ai biết được rằng bài thơ này có tới 2 nhạc sĩ phổ nhạc là Ngô Thụy Miên và Hoàng Thanh Tâm. Trong số những người biết bài Tháng Sáu Trời Mưa của Hoàng Thanh Tâm, thì lại không biết còn một bản nữa của Ngô Thụy Miên. Ngược lại những người biết nhạc sĩ Ngô Thụy Miên có phổ nhạc bài Tháng Sáu Trời Mưa, thì không được nghe chính bài hát của NTM qua tiếng hát duy nhất của ca sĩ Hải Lý, mà chỉ được nghe bản phổ nhạc của HTT! Nên cứ nghĩ bản nhạc mình đang nghe là của NS NTM!

NS Hoàng Thanh Tâm và NS Trần Ngọc Sơn (trưởng nam của NS Anh Bằng) đang mix
nhạc phẩm “Tháng Sáu Trời Mưa” tại phòng thâu Asia 1987
Đêm thơ nhạc Du Tử Lê & Hoàng Thanh Tâm tại Sydney 1988
(Ra mắt thi tập “Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu” và băng nhạc “Tháng Sáu Trời Mưa”)

Điển hình như trên diễn đàn bentre forum tại Mỹ, ngay cả những người trong ban điều hành trang web, đều bị nhầm lẫn tên tác giả:

Riêng bản thân tôi, khi tôi phổ nhạc bài thơ “Tháng Sáu Trời Mưa” của thi sĩ Nguyên Sa năm 1987 tại Canberra, Úc Châu. Tôi không hề biết ns Ngô Thụy Miên đã phổ nhạc bài này năm 1984, tức là trước đó 3 năm.

Cho đến vài năm sau (khoảng 1990/1991) khi biết ns NTM cũng phổ nhạc bài này, thì tôi cứ nghĩ nhạc phẩm này được viết sau bản phổ thơ của tôi. Mãi đến năm 2003, qua những thông tin trên mạng tôi mới biết ns NTM viết bài này vào năm 1984, trước tôi 3 năm.

Xin mời các bạn nghe “Tháng Sáu Trời Mưa” bản phổ nhạc của NS Hoàng Thanh Tâm và NS Ngô Thụy Miên qua cùng một tiếng hát: Ca sĩ Hải Lý

THÁNG SÁU TRỜI MƯA (Hoàng Thanh Tâm) – Hải Lý
THÁNG SÁU TRỜI MƯA (Ngô Thụy Miên) – Hải Lý

2.Nhạc phẩm “Cần Thiết”:

Tôi đã phổ nhạc bài thơ “Cần Thiết” của thi sĩ Nguyên Sa vào năm 1987, cùng năm với “Tháng Sáu Trời Mưa”, khi vẫn còn ở thủ đô Canberra, Úc Châu. Nhạc phẩm này được ra mắt thính giả trong album CD “Khúc Nhạc Sầu Cho Em” (tình ca Hoàng Thanh Tâm 2) với tiếng hát của ca sĩ Mai Hương.

NS Hoàng Thanh Tâm và ca sĩ Mai Hương tại Soundtech Studio 1986

Thật sự khi phổ nhạc xong bài này, trong đầu tôi nghĩ ngay đến tiếng hát Thái Thanh, nhưng khi điện thoại cho ca sĩ Thái Thanh thì cô cho biết, cô chỉ hát nguyên một album, chứ không hát lẻ từng bài. Và quả thật như vậy, khi qua hải ngoại, nữ danh ca Thái Thanh chỉ hát riêng một album với giọng ca của cô cho trung tâm Diễm Xưa mà thôi!

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên cũng đã phổ nhạc bài thơ “Cần Thiết” của thi sĩ Nguyên Sa vào năm 1993 (sau tôi 6 năm).

Xin mời các bạn nghe “Cần Thiết” của Hoàng Thanh Tâm qua tiếng hát Mai Hương và “Cần Thiết” của Ngô Thụy Miên qua tiếng hát Thanh Hà:

CẦN THIẾT (Hoàng Thanh Tâm) – Mai Hương
CẦN THIẾT (Ngô Thụy Miên) – Thanh Hà

3. Nhạc phẩm “Cô Hái Mơ”:

Cô Hái Mơ” là một thi phẩm nổi tiếng của thi sĩ Nguyễn Bính, được sáng tác khoảng năm 1939, lúc thi sĩ độ 21 tuổi. Thi phẩm này được lấy bối cảnh ở chùa Hương. Theo tác giả Ngọc Giao thì ông thai nghén bài thơ này trong lần đi thăm chùa Hương vào năm 1939 cùng với nhóm bạn văn nghệ thành phố Nam Định, trong đó có Ngọc Giao.

Nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ nhạc bài thơ này vào năm 1942, và sau đây là lời trích dẫn từ trang website của ns Phạm Duy:
“Tôi đã phổ nhạc bài thơ này vào năm 1942. Đó là bản nhạc đầu tay của tôi cho nên tôi yêu nó lắm. Trong bài thơ phổ nhạc, có câu : Nhà ta ở dưới gốc cây dương, cách động Hương Sơn nửa dặm đường… cho nên 64 năm sau khi sáng tác bài hát, tôi phải mò về Chùa Hương để tìm cô hái mơ, khi tôi có cơ hội trở về Việt Nam vào năm 2003..”

Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm phổ nhạc thi phẩm “Cô Hái Mơ” vào năm 1973, lúc nhạc sĩ chỉ mới 13 tuổi! Có một sự trùng hợp kỳ diệu và lạ lùng là: nếu không kể nhạc phẩm “Trả lại thoáng mây bay” sáng tác tại hải ngoại năm 1980 ở Bruxelles (Bỉ), thì “Cô Hái Mơ” cũng là sáng tác đầu tay của ns Hoàng Thanh Tâm tại Việt Nam!…

Một điều đáng buồn nhất cho tôi là trong những bài viết về nhạc phẩm “Cô Hái Mơ” của NS Phạm Duy, tác giả những bài viết như Thy Nga, phóng viên đài RFA, bài “Những ca khúc phổ thơ Nguyễn Bính” đăng trên diễn đàn Mẫu Tâm:


Trên trang Đặc Trưng:

hoặc trên trang:

http://www.saigonline.com/phamduy/ (mục nhạc sĩ Phạm Duy)

đều minh họa bài “Cô Hái Mơ” của ns Hoàng Thanh Tâm qua tiếng hát của Xuân Sơn hay Vũ Khanh, khi nói về âm nhạc của ns Phạm Duy?!!

Điều này khiến những khán thính giả quan tâm rất thắc mắc và “khó hiểu”, điển hình là bạn owoanh trên diễn đàn Phố Xưa đã có câu hỏi như sau:

Thảo luận về bài “Cô Hái Mơ”

và nhân dịp này tôi cũng xin cảm ơn bạn Hư Vô, bạn Quốc Anh, va bạn Tieu tot, đã có những câu trả lời rất xác đáng và rõ ràng, để giải tỏa những thắc mắc và hoài nghi của bạn owoanh trên diễn đàn này…

Sau đây xin mời các bạn thưởng thức nhạc phẩm “Cô Hái Mơ” bản phổ nhạc của ns Hoàng Thanh Tâm, qua tiếng hát của ca sĩ Xuân Sơn, Vũ Khanh. Và bản phổ nhạc của ns Phạm Duy, qua tiếng hát của Hà Thanh, Duy Quang :


CÔ HÁI MƠ (Hoàng Thanh Tâm) – Xuân Sơn
CÔ HÁI MƠ (Hoàng Thanh Tâm) – Vũ Khanh
CÔ HÁI MƠ (Phạm Duy) – Hà Thanh
CÔ HÁI MƠ (Phạm Duy) – Duy Quang

4. Nhạc phẩm “Đây Thôn Vỹ Dạ”:

Những ai yêu mến thi sĩ “Hàn Mặc Tử”, một thiên tài yểu mệnh, đều biết đến bài thơ “Đây Thôn Vỹ Dạ” của ông, đây là một trong những thi phẩm nổi tiếng nhất ông đã để lại cho đời.

Thi sĩ mất vào năm 1940, hưởng dương 28 tuổi, sau 5 năm chịu đựng căn bệnh hiểm nghèo cùng với những cơn đau đớn tột cùng về thể xác lẫn tinh thần, để rồi từ những đau thương và bất hạnh đó, những tinh hoa trong khối óc và trái tim của người nghệ sĩ bạc mệnh, đã phát tiết thành những vần thơ, nói theo tác giả Thụy Khê là: “… mở về thân xác con người, tạo bút pháp không gian, mà trăng, nước và khí trời là ba yếu tố nền tảng xây dựng nên vũ trụ thơ Hàn Mặc Tử…” (Văn Học Nghệ Thuật bài đăng ngày 10/01/2009).

Tôi yêu thơ Hàn Mặc Tử, và yêu luôn nỗi bất hạnh của ông, nỗi cô đơn, bất hạnh, như một định mệnh gắn liền với tác phẩm của những người sáng tạo nghệ thuật chân chính.

Từ trái qua phải: một thân hữu, cố thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên, ca sĩ Đăng Lan, nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm tại tư gia của thi sĩ ở Westminster

Nguyễn Tất Nhiên & Hoàng Thanh Tâm trong “Đêm Không Ngủ” do báo “Người Việt” tổ chức 1988 (Phía sau là cố nhạc sĩ Lê Uyên Phương (áo đen) và gia đình)


Tôi đã phổ nhạc bài thơ “Đây Thôn Vỹ Dạ” của thi sĩ Hàn Mặc Tử vào năm 1988, và đã mời ca sĩ Thiên Trang thâu âm nhạc phẩm này lần đầu tiên. Đây là nhạc phẩm đầu tiên tôi dùng giai điệu ngũ cung để đưa vào âm nhạc, sao cho bài hát phải mang một âm hưởng địa phương tính và thật đặc trưng Huế, để ăn khớp với từng lời thơ bay bổng thật tượng hình và giàu âm điệu của thi sĩ Hàn Mặc Tử.

Dù đã hơn 20 năm qua, tôi vẫn còn nhớ rõ từng bộ điệu nhanh nhẩu của cô ca sĩ khả ái này, trong phòng thâu của trung tâm Asia. Cô đã hát bài hát bằng một cảm xúc rất chân thành và thái độ hớn hở, và thâu luôn một lèo, không cần “punch” lại ở đoạn nào của bài nhạc cả!

Xin mời các bạn thưởng thức “Đây Thôn Vỹ Dạ”, của Hoàng Thanh Tâm qua tiếng hát Thiên Trang và bản phổ nhạc của nhiều nhạc sĩ khác như : Phạm Duy, Phan Huỳnh Điểu, Võ Tá Hân, Khúc Dương vv…


ĐÂY THÔN VỸ DẠ (Hoàng Thanh Tâm) – Thiên Trang
ĐÂY THÔN VỸ DẠ (Phạm Duy) – Dalena
ĐÂY THÔN VỸ DẠ (Phan Huỳnh Điểu) – Bảo Yến
ĐÂY THÔN VỸ DẠ (Võ Tá Hân) – Vân Khánh
ĐÂY THÔN VỸ DẠ (Khúc Dương) – Camille Huyền
ĐÂY THÔN VỸ DẠ (Lê Triều Quang) – Vân Khánh


Đây là một trong những thi phẩm của thi sĩ Du Tử Lê, trích trong tập thơ “Ở chỗ nhân gian không thể hiễu”, phát hành tại Hoa Kỳ và Úc Châu năm 1988. Năm 1988, khi tôi trở lại quận Cam để thực hiện album thứ 3 của mình với trung tâm băng nhạc Diễm Xưa, tôi đã tình cờ gặp thi sĩ Du Tử Lê tại ngay tòa soạn của ông. Chúng tôi nhanh chóng kết thân với nhau, và trong thời gian mấy tháng ở tại Mỹ, chúng tôi đã nhiều lần hàn huyên với nhau.
Thi sĩ Du Tử Lê đã giới thiệu về tôi rất nhiều với những bạn bè thân hữu của ông như thi sĩ Nguyên Sa, nhà văn Mai Thảo, ns Việt Dzũng, ns Trần Duy Đức …Và khi ông ngỏ ý muốn giới thiệu tập thơ mới nhất của mình đến với khán giả Úc Châu, tôi quyết định mời ông sang Úc để ra mắt đêm thơ nhạc Du Tử Lê – Hoàng Thanh Tâm tại 2 thành phố lớn nhất là Sydney và Melbourne.

Du Tử Lê & Hoàng Thanh Tâm tại phi trường Sydney 1988

Hoàng Thanh Tâm & Du Tử Lê tại Canberra, Úc Châu 1988


Thi sĩ Du Tử Lê đang ký tặng thi tập “Ở chỗ nhân gian không thể hiểu” cho luật sư Lưu Tường Quang, giám đốc đài phát thanh radio SBS trong buổi ra mắt tại Sydney 1988

Thi sĩ Du Tử Lê và nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm trong buổi ra mắt 30 đêm thơ nhạc tại Sydney


Du Tử Lê & Hoàng Thanh Tâm tại Canberra, Úc Châu


v\:* {behavior:url(#default#VML);} o\:* {behavior:url(#default#VML);} w\:* {behavior:url(#default#VML);} .shape {behavior:url(#default#VML);} Thi sĩ Du Tử Lê và nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm cảm tạ ban tổ chức chương trình 30 đêm thơ nhạc cho Úc Châu tại Sydney 1988

Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm đang ký tặng băng nhạc cho một khán giả hâm mộ


Thi sĩ Du Tử Lê đang diễn đọc một bài thơ của ông
trong tập :“Ở chỗ nhân gian không thể hiểu”


Võ sư Trần Huy Quyền giới thiệu chương trìnhđêm thơ nhạc
Du Tử Lê & Hoàng Thanh Tâm tại Melbourne


Đại diện ban tổ chức và báo chí tặng quà lưu niệm cho
thi sĩ Du Tử Lê và nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm


Kể từ mối thâm giao đó, và nhờ có dịp tiếp cận với những bài thơ trong tập “Ở chỗ nhân gian không thể hiễu”, tôi đã phát họa những nốt nhạc trong đầu mình, để chắp cánh cho 3 trong những bài thơ này. Khi thi sĩ Du Tử Lê trở về lại Hoa Kỳ thì tôi đã hoàn tất được 3 tình khúc phổ từ thơ Du Tử Lê gồm:

Trong tay Thánh Nữ có đời tôi
Còn thơm tay Quý Phi
– Vì em tôi đã làm sa di

Những tình khúc này đều có mặt trong những album CD của tôi phát hành sau này ở Mỹ…
Xin mời các bạn yêu nhạc thưởng thức tình khúc “Trong tay Thánh Nữ có đời tôi” của Hoàng Thanh Tâm (được phổ từ 2 bài thơ của DTL, có một bài tôi chỉ lấy 4 câu để đưa vào điệp khúc) qua 2 giọng nam Thái Châu, Tuấn Anh
Và “Trong tay Thánh Nữ có đời tôi” của ns Trần Duy Đức qua 2 giọng nữ Khánh Ly và Thanh Hà:



TRONG TAY THÁNH NỮ CÓ ĐỜI TÔI (Hoàng Thanh Tâm) – Thái Châu
TRONG TAY THÁNH NỮ CÓ ĐỜI TÔI (Hoàng Thanh Tâm) – Tuấn Anh
TRONG TAY THÁNH NỮ CÓ ĐỜI TÔI (Trần Duy Đức) – Khánh Ly
TRONG TAY THÁNH NỮ CÓ ĐỜI TÔI (Trần Duy Đức) – Thanh Hà

6. Nhạc phẩm “Ngập Ngừng” (Anh cứ hẹn)

Có thể nói những người yêu thơ, không ai là không biết bài thơ “Ngập Ngừng” của thi sĩ Hồ Dzếnh với những câu như “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé, để lòng buồn anh dạo khắp quanh sân, nhìn trên tay điếu thuốc cháy lụi dần, anh khẽ nói: Gớm! Sao mà nhớ thế!”.

Trong niềm hứng khởi với sự thành công của album đầu tay “Lời tình buồn” phát hành tại Hoa Kỳ năm 1986. Khi trở về Úc, tôi đã viết cũng như đi vào lãnh vực mới là phổ thơ rất nhiều những bài thơ tiền chiến cũng như cận đại. Và thi phẩm “Ngập Ngừng” viết năm 1987, nằm trong số những bài thơ tiền chiến tôi phổ nhạc.

Bản nhạc này có một “định mệnh” kỳ lạ là “nó” được những ca sĩ trình bày đổi luôn tựa đề thành “Em cứ hẹn” hay “Anh cứ hẹn” tùy theo ca sĩ hát bài này là nam hay nữ. Và một lần nữa tôi lại mang cảm giác buồn, khi nhạc phẩm này lại bị anh Nguyễn Ngọc Ngạn lầm tưởng của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 phổ nhạc, khi anh giới thiệu vể bài hát, trong cuốn video Thúy Nga Paris 37 với tiếng hát Hoài Nam! ……..

Và vì sự phổ biến sâu rộng trong quần chúng trở nên quá nhanh, không kịp đính chính lại, nên tôi đành phải “tuân theo” mà chấp nhận cho bài hát có cái tựa mới là “Anh cứ hẹn”.
Khi phổ nhạc bài này, tôi đã giữ lại gần như nguyên vẹn bài thơ, và chỉ sửa có một hai chữ mà thôi! Và đó cũng là “sở trường” của tôi khi đem những bài thơ vào trong âm nhạc.

Mời các bạn nghe “Anh cứ hẹn” của NS Hoàng Thanh Tâm qua tiếng hát Tâm Đoan, và “Anh cứ hẹn” của NS Anh Bằng qua giọng ca Như Quỳnh:


ANH CỨ HẸN (Hoàng Thanh Tâm) – Tâm Đoan
ANH CỨ HẸN (Anh Bằng) – Như Quỳnh


7. Nhạc phẩm “Lời tình buồn”:

Nhạc phẩm “Lời tình buồn” được viết tại Canberra vào năm 1982, khi tôi mới bắt đầu định cư tại Úc Đại Lợi, sau khi từ giả Bruxelles. Bản nhạc này tôi viết về một mối tình ngang trái của tôi, ở một môi trường mới rất nên thơ, với một người con gái Huế mang tên T.! Cho nên trong bài mới có những câu như : “…Ta thấy trong mắt em, từng đêm mưa vàng võ, ta thấy trong cánh tay, mùa Thu mang xót xa…”.

Bài này tôi đã mời ca sĩ Khánh Ly thâu âm lần đầu tiên trong album đầu tay, mang chủ đề “Lời Tình Buồn” được phát hành tại Hoa Kỳ năm 1986. Và từ đó, có rất nhiều ca sĩ khác, cũng đã thâu âm bài này trong những CD khác như : Ngọc Hương, Kiều Nga, Thanh Hà, Quỳnh Lan, Ý Lan, Vũ Khanh, Diễm Liên, Ngọc Huệ vv…


Nhạc sĩ Vũ Tuấn Đức và Hoàng Thanh Tâm tại Soundtech Studio, nơi thâu âm album đầu tay “Lời Tình Buồn” với phần hòa âm và phối khí của NS Trung Nghĩa

NS Vũ Thành An cũng sáng tác tình khúc mang tên “Lời Tình Buồn”, phổ từ thơ Chu Trầm Uyên Minh. Tôi không biết NS sáng tác bài này vào năm nào? Chỉ biết rằng đây là một tình khúc rất hay, và cũng đã được nhiều ca sĩ thâu âm.

Mời các bạn thưởng thức “Lời Tình Buồn” của Hoàng Thanh Tâm và Vũ Thành An qua cùng một tiếng hát: ca sĩ Khánh Ly


LỜI TÌNH BUỒN (Hoàng Thanh Tâm) – Khánh Ly
LỜI TÌNH BUỒN (Vũ Thành An) – Khánh Ly

8. Nhạc phẩm “Buồn Đêm Mưa”:

Cũng như hầu hết những bài thơ tôi đã phổ nhạc, tôi không hề biết bài thơ “Buồn Đêm Mưa” của thi sĩ Huy Cận đã được ns Phạm Đình Chương phổ nhạc nhiều năm trước đó, cho mãi đến tận sau này … Và cũng chính vì “điếc không sợ súng”, nên tôi mới phổ nhạc nhiều bài thơ trùng tựa như vậy! Vì nếu biết những bài thơ này đã được những “cây đại thụ” như Phạm Duy, Phạm Đình Chương phổ nhạc, chắc tôi không đủ can đảm để phổ biến những bản nhạc của mình.

Nhưng có lẽ chính nhờ vào cái “không biết” đó, đã giúp tôi vô tư và “hồn nhiên” đưa được vào âm nhạc những bài thơ mà tôi rất yêu thích từ nhỏ …

Mời các bạn thưởng thức “Buồn đêm mưa” của Hoàng Thanh Tâm qua tiếng hát Mai Hương và “Buồn đêm mưa” của NS Phạm Đình Chương qua phần trình bày của ca sĩ Thái Thanh cùng ban hợp ca Thăng Long:

BUỒN ĐÊM MƯA (Hoàng Thanh Tâm) – Mai Hương
BUỒN ĐÊM MƯA (Phạm Đình Chương) – Thái Thanh & ban hợp ca Thăng Long

Kính thưa quý khán thính giả yêu mến!

Khi trình bày bài viết này lên trang web cá nhân của mình, tôi đã thật sự rất đắn đo và lo nghĩ… Bởi vì tôi không có ý mang những đứa con tinh thần của mình ra so sánh với những tác phẩm của những nhạc sĩ khác, mà chỉ muốn giải bày nỗi buồn thầm lặng về sự ngộ nhận tác giả mà tôi đã phải gánh chịu trong suốt nhiều năm qua. Đối với tôi, tất cả những danh vọng, những vinh quang chói lòa của người nghệ sĩ, rồi cũng qua đi, và sẽ tan biến vào hư không. Nhưng những tác phẩm nghệ thuật của những người nghệ sĩ chân chính, sẽ sống mãi trong sự yêu thương của khán thính giả, ở cả những thế hệ mai sau…
Xin chút cảm thông nơi quý khán thính giả, khi đến với bài viết này. Đó là nguồn an ủi và động viên lớn cho cuộc đời sáng tác của tôi.

Sydney, tháng 4/2009
Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm





Ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại!

October 2017
M T W T F S S
« Jul    
 1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031  
Trang website này là một nỗ lực do NS Hoàng Thanh Tâm thực hiện, để các bạn yêu nhạc khắp nơi có một sân chơi âm nhạc thật phong phú, đa dạng. Một nơi chốn bình yên và êm ả, để chúng ta có thể gởi cho nhau nghe những lời yêu thương, ngồi lại gần với nhau hơn, và chia sẻ với nhau những tâm sự rất riêng tư của mình, bằng ngôn ngữ kỳ diệu nhất của nhân loại : ÂM NHẠC, một loại ngôn ngữ không có biên giới... Sydney,tháng 6/2009 NS Hoàng Thanh Tâm

Categories

Pages

Top Clicks

  • None

Flickr Photos

Archives

Blog Stats

  • 22,667 hits

Pages

October 2017
M T W T F S S
« Jul    
 1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031