11
Jul
09

DỤC TÍNH TRONG ÂM NHẠC TRỊNH (Hoàng Thanh Tâm)

Gởi NS Tô Hải, nhà thơ Linh Phương, Agonboy, PV Hải, Khắc Huy, Hoàng Guitar, Bùi Hoàng Hải (Bỉ), Nguyễn Văn Rích, NC Viên, Đàm Xuân Lộ, Võ Đình Sơn, Trần Cảnh Mẫn và tất cả bạn hữu Pétrus Ký của tôi ….

“Tôi biết sức mạnh của ngôn từ…ngôn từ là tướng của đạo quân sức mạnh con người…” (Maiakovsky)

Tân nhạc cải cách Việt Nam chỉ thật sự được khai sinh từ năm 1930, và có thể xếp loại theo từng giai đoạn như sau:

1. Giai đoạn tượng hình (theo NS Trần Quang Hải) [1] 1930-1937
2. Giai đoạn thành lập 1938-1945 hay còn thường được gọi là dòng Nhạc Tiền Chiến
3. Giai đoạn kháng chiến 1945-1954
4. Giai đoạn 1954-1975 thời cực thịnh của nền tân nhạc tự do miền nam Việt Nam
5. Giai đoạn nhạc hải ngoại 1975 cho đến nay.

Trong khuôn khổ của bài viết theo chủ đề này, tôi chỉ xin đề cập đến dòng nhạc của 2 giai đoạn 1954-1975, và dòng nhạc từ 1975 cho đến nay. Chủ yếu là những sáng tác của những nhạc sĩ ở trong miền Nam sau năm 1954, và một số sáng tác ở hải ngoại sau 1975.

Trước khi đi vào bài viết này, tôi xin phép được lưu ý quý độc giả, là bài viết này chỉ mang tính cách là một bài phiếm luận. Không phải là một bài viết phân tích về giá trị nghệ thuật trong âm nhạc, hay một bài phê bình văn học. Tôi chỉ viết những gì thuộc về cảm tính của mình, với những hiểu biết khiêm tốn của một nhạc sĩ sáng tác. Xin những nhà nghiên cứu âm nhạc và những học giả uyên bác hãy lượng thứ cho những thiếu sót nếu có.

***

Không biết tôi có chủ quan hay mang nặng “dân tộc tính” trong suy nghĩ của mình không, khi nói rằng ngôn ngữ Việt Nam của chúng ta phong phú và kỳ diệu hơn ngôn ngữ …. Tây phương. Phong phú ở chỗ là khi muốn diễn đạt một ý tưởng hay một hình ảnh nào, chúng ta có thật nhiều từ ngữ và nhiều cách khác nhau, để nói lên được cho người khác hiểu điều mình muốn nói. Ngoài những phương pháp (thủ thuật) trong mỹ từ pháp như: nhân cách hóa, ẩn dụ, điệp ngữ, ngoa ngữ, thậm xưng, hoán dụ, đảo ngữ…Tiếng Việt còn những cách nói lái, nói mĩa, nói bóng gió, nói cạnh, nói khóe, nói ẩn dụ, nói “chặn họng”, nói cương, nói đãi bôi, nói điêu, nói lẫy vv….

Trong âm nhạc, cách sử dụng những từ ngữ để đặt thành lời nhạc, không thể học bằng lý thuyết, như môn giảng văn hay những môn khoa học…Ngay cả khi học về lý thuyết sáng tác trong âm nhạc, không ai có thể dạy cách đặt những ca từ như thế nào mới là đúng là hay cả! Những lời lẽ, hay ý tưởng để diễn tả cảm xúc vào bản nhạc, đều nằm trong cái năng khiếu sáng tạo, để tạo nên “hồn nhạc” của người viết nhạc. Và cái hồn nhạc này quyết định cho sự thành công hay thất bại của một bản nhạc.

Vì vậy để sáng tác một bản nhạc hay, làm rung động hồn người, người nhạc sĩ ngoài những kiến thức chuyên môn trong âm nhạc, cần phải có chiều sâu và sự nhạy cảm trong tâm hồn. Một khối óc thông minh, tinh tế và cảm thức thẩm mỹ, để có thể “thẩm định” một cách chính xác, cái đẹp của những giai điệu mình đã viết ra. Sao cho thính giả cũng cảm nhận được cái đẹp giống như người sáng tạo. Giai điệu đẹp, khi được chuyển tải bằng lời nhạc hay, viết ra từ những cảm hứng đích thực, sẽ tạo được một sự cộng hưởng, để mang lại sự rung động thật sự cho người thưởng ngoạn …. Những kỹ năng này đòi hỏi một khả năng thiên phú ở người nhạc sĩ. Vì nếu không, bản nhạc chỉ là một tập hợp những chuỗi âm thanh vô vị, và những từ ngữ thô thiển, sáo rỗng …

Đa số những nhạc sĩ nổi tiếng, đều có những sáng tạo ngôn ngữ riêng cho mình, bằng những từ ngữ mượt mà, trau chuốt trong những tác phẩm của họ. Chính cái ngôn ngữ tạo nên một thần thái riêng này, đã hình thành nên phong cách của từng nhạc sĩ. Những phong cách đó sẽ được khán thính giả đánh giá và thẩm định qua chính những tác phẩm của mỗi tác giả, tùy theo trình độ cảm nhận của người thưởng ngoạn. Trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài phiếm luận, tôi chỉ có thể đưa ra một số ví dụ của một vài nhạc phẩm, để minh họa cho sự sáng tạo phong phú của những nhạc sĩ, và sự khác biệt trong phong cách của họ.

Ví dụ khi người nhạc sĩ muốn diễn tả “sự phụ rẫy” của người tình. (Đề tài này có trong rất nhiều những bản nhạc sáng tác trong giai đoạn 1954-1975). Sự diễn đạt tâm trạng của mỗi tác giả thật vô cùng phong phú và đa dạng. Từ “chấp nhận” đến “than khóc”, đến “trách cứ”, đến “phẩn nộ”, đến muốn “trả thù” vv… Tựu chung, chỉ nói về cùng một đề tài là thất tình, nhưng mỗi tác giả lại diễn tả sự xúc cảm bằng “ngữ pháp” riêng của mình. Những ngôn ngữ này thể hiện trình độ diễn đạt và thái độ khác nhau của từng nhạc sĩ đối với cùng một sự kiện:

* … Sao em nỡ đành quên kỷ niệm chan chứa êm đềm
Sao em nỡ đành quên cho lòng này đau xót thêm…
(Sao em nỡ đành quên_Tô Thanh Tùng)

Thái độ của người bị phụ bạc trong nhạc phẩm của NS Tô Thanh Tùng là sự trách móc, than van, rồi khẩn nài như muốn níu kéo người tình trở về với mình, bằng một ngôn ngữ mộc mạc bình dị, không cần thi ngữ….

SAO EM NỠ ĐÀNH QUÊN – Trường Vũ

* “ … Em theo đời cơm áo.
Mai ra cùng phố xôn xao.
Bao nhiêu ngày yêu dấu tan theo
Ta ôm tình nặng trĩu
Nghe quanh đời mưa bão,
Ôi những ngày yêu dấu bọt bèo …”
(Yêu dấu tan theo_Trịnh Công Sơn)

Trịnh Công Sơn chấp nhận sự ra đi của người yêu, như một lẽ tự nhiên, không một lời oán trách, dẫu chỉ là một oán trách nhẹ nhàng. Tâm hồn ông bao dung và mênh mông như đất trời. Và cũng bởi ông đã từng quen với sự phụ rẫy của những người tình đã đi qua đời mình, với lời hẹn thề chỉ thoảng như gió bay, hay như những cơn mưa chợt đến rồi đi…“Từng người tình bỏ ta đi như những giòng sông nhỏ, ôi những giòng sông nhỏ, lời hẹn thề là những cơn mưa …” (Tình xa_Trịnh Công Sơn)

YÊU DẤU TAN THEO – Khánh Ly

* “ … Em xé đi linh hồn tôi đã bán
Em xé đi tim hồng tôi đã trao
Em, em xé đi cho nát tan một nụ cười
Cho chết đi một cuộc đời
Tình ta trót trao lầm …”
(Xé thư tình_Trương Hoàng Xuân)

Thái độ của người bị phụ tình trong bài “Xé thư tình”, có thể “thấy” được ngay ở cái tựa của bài hát. Tác giả tiếc nuối đã trao duyên lầm một “ác quỷ đầy quyền năng” và đã lỡ “bán linh hồn” mình cho “ác quỷ”. Vì vậy những lời oán trách kẻ phụ tình có vẻ “hằn học” hơn, chớ không nhẹ nhàng như Tô Thanh Tùng. Những ca từ cũng vay mượn nhiều mỹ từ pháp như thậm xưng, điệp ngữ, ẩn dụ, để diễn tả cõi lòng tan nát, khi người yêu đang tâm xé đi bức thư tình nồng cháy, như xé đi trái tim hồng của thi nhân…

XÉ THƯ TÌNH – Elvis Phương

* “ … Giết người đi! Giết người đi!
Giết người trong mộng đã bội thề
Giết người đi! Giết người đi!
Giết người quên tình nghĩa phu thê

…………………………………………………….

Làm sao giữ được người trong mộng
Để được tình yêu, dẫu bẽ bàng.
Giết người trong mộng?
Hay giữ người trong mộng?
Giết người trong mộng?
Hay giữ người mộng mơ? …”
(Giết người trong mộng_Phạm Duy & Hàn Mặc Tử)

Nhạc phẩm Giết người trong mộng của NS Phạm Duy, phổ từ thơ Hàn Mặc Tử, diễn tả sự đau đớn tột đỉnh của tác giả khi bị phụ bạc, ca từ với điệp ngữ “giết người”, được “phù thủy âm nhạc” Phạm Duy cố tình lập đi lập lại, trong suốt bài hát, để diễn tả sự uất hận nghẹn ngào… Niềm đau đớn, dày vò, đày đọa trong tâm thức người thi sĩ, là chỗ mâu thuẩn nội tâm, giữa yêu và hận, giữa cái sống và cái chết… Tác giả giục giã gào thét “giết người đi”, nhưng rồi lại hỏi lại chính mình: “Làm sao giữ được người trong mộng, để được tình yêu dẫu bẽ bàng…”

GIẾT NGƯỜI TRONG MỘNG – Hoàng Thanh Tâm (LIVE)

* “ …Anh trở lại, đây kỷ vật viên đạn đồng đen
Em sang sông cho làm kỷ niệm
Anh trở về, anh trở về trên đôi nạng gỗ
Anh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân
Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân
Bên người yêu tật nguyền chai đá …”
(Kỷ vật cho em_Phạm Duy & Linh Phương)

Nhạc phẩm Kỷ Vật Cho Em của Phạm Duy, được phổ từ bài thơ Để trả lời một câu hỏi của Linh Phương năm 1970, là một thông điệp thống thiết để đánh thức lương tâm nhân loại trước một chiến tranh ý thức hệ, đã hủy diệt hằng triệu người Việt của cả hai miền Nam Bắc. Bản nhạc chỉ đề cập đến thân phận nhỏ nhoi của đôi tình nhân trong chiến tranh, nhưng những câu trả lời của người lính, đang phải kề cận với từng giây phút của cái chết, là một ám ảnh khôn nguôi trong tâm thức của hàng triệu người Việt Nam, trong giai đoạn dầu sôi, lửa bỏng của quê hương những năm đầu thập niên 70 khi bản nhạc ra đời, và cả cho đến hôm nay…
Lời lẽ của người lính trong bài thơ của Linh Phương, là một chứng cớ hùng hồn, để nói lên sự bi thảm, và hệ lụy của cuộc chiến Việt Nam, đã biến những trái tim yêu thương trở thành điên đảo lạnh lùng, và loang lỗ những vết chai đá hận thù …

KỶ VẬT CHO EM – Thái Thanh

* “… Chiều qua ru em ngủ,
chiều nay em theo chồng,
thế hỏi lòng có buồn không?…”
(Tương tư 4_Mặc Thế Nhân)

TƯƠNG TƯ 4 – Sĩ Phú

* “… Mưa bên chồng có làm em nhớ
những khi mình mặn nông?… “
(Bài không tên cuối cùng_Vũ Thành An)

BÀI KHÔNG TÊN CUỐI CÙNG – Elvis Phương

Chỉ riêng Mặc Thế Nhân và Vũ Thành An đều chấp nhận sự ra đi của người yêu, không một lời oán trách, mà chỉ lặng lẽ ôm nỗi tiếc nuối cho riêng mình …

Trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn, hầu như những lời nhạc của ông đều mang đậm chất thơ. Ngoài những câu nhạc như thi ngữ, người nhạc sĩ tài hoa này đã có những sáng tạo ngôn ngữ vô cùng phong phú cho riêng ông, để diễn tả ý tưởng hay cảm xúc, với những hình ảnh thật nghệ thuật bằng chữ nghĩa. Những chữ nghĩa mà chúng ta không thể tìm thấy ở bất cứ cuốn tự điển tiếng Việt nào như:

“Tóc chiều” (Dấu chân địa đàng), “Vết lăn trầm”(Vết lăn trầm), “Mắt đêm đèn vàng” (Biển nhớ), “Con tinh yêu thương” (Một cõi đi về) , “Tuổi đá buồn” (Tuổi đá buồn), “Hồn xanh buốt” (Diễm Xưa), “Tình đã nghìn thu” (Còn tuổi nào cho em), “Đá ngây ngô” (Rồi như đá ngây ngô), “Đá lên trong mình” (Du mục), “Vết buồn khắc trên da” (Yêu dấu tan theo), “Phơi tình” (Cỏ xót xa đưa), “Quỳ gối vong nô” (Ru em), “Một hồn thơm cây trái” (Ru Tình) vv …

Những ca từ trong âm nhạc Trịnh Công Sơn, chưa kể tới những triết lý hay nhân sinh quan bàng bạc trong những câu nhạc của ông, đều mang một ngôn ngữ rất TCS. Những bài thơ lục bát, thơ đồng dao, thơ 4 chữ, thơ 5 chữ của một “thi sĩ” TCS, đã được lồng vào những giai điệu mượt mà trong những bản nhạc của ông, để trở thành những tuyệt tác làm mê hoặc lòng người. Nói một cách nôm na là nhạc sĩ TCS đã phổ nhạc những bài thơ của “một nhà thơ mang tên là Trịnh Công Sơn” [2], như lối ví von của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo. Hay có thể nói một cách không ngoa, nhạc sĩ TCS đã tạo được một trường phái âm nhạc mang tên nhạc Trịnh, bởi những nét đặc thù có một không hai của ông, trong một vài ví dụ điển hình như:

Trong bài “Chiều một mình qua phố” của Trịnh Công Sơn có câu:

“… Có khi nắng khuya chưa lên, mà một loài hoa chợt tím … “

Trong đó thay vì “nói” “có khi ánh trăng chưa lên, mà một loài hoa chợt tím”. Nhạc sĩ TCS đã thay thế chữ “ánh trăng” bằng một “ngôn ngữ” của riêng mình. Và nếu có nhạc sĩ nào muốn dùng chữ “nắng khuya” để ám chỉ “ánh trăng” thì ắt hẳn phải chịu khó mua lại cái “bản quyền sở hữu trí tuệ” của nhạc sĩ TCS …

Trong bài “Tình nhớ” với những “câu thơ” 5 chữ:

“… Ôi áo xưa lồng lộng
Đã xô dạt trời chiều
Như từng cơn gió lộng
Xóa một ngày đìu hiu ..”

TCS đã dùng thật nhiều mỹ từ pháp như nhân cách hóa, tượng hình, ẩn dụ, hoán dụ, thậm xưng … trong 4 câu nhạc trên, để diễn tả những cảm xúc hân hoan đang trào dâng trong lòng mình:

Chỉ với một tà “áo xưa” mà có thể “xô dạt” cả một trời chiều. Và cái “lồng lộng” của áo xưa, đã hóa thân thành những “cơn gió lộng” để xóa tan nỗi cô đơn, “đìu hiu” của TCS, khi người yêu bỗng nhiên trở về với ông không hẹn trước….

Ngoài một “thi sĩ” trong âm nhạc, TCS còn là một “họa sĩ”, một “nhiếp ảnh gia”, một “phóng viên chiến trường” tài ba, bởi ông đã “vẽ” và đã “chụp” được những bức chân dung thật lãng mạn, cho đến những hình ảnh não lòng của chiến tranh, bằng những rung động dạt dào, trong trái tim nhân ái tha thiết của ông:

“Yêu em quỳ gối vong nô…”
“…Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ”
(Ru em_Trịnh Công Sơn)

Hãy nhìn vào “bức tranh trừu tượng”, với hình ảnh một người đang “quỳ gối” để xưng tụng tình yêu, như một tín đồ ngoan đạo. Tín đồ đã “ngộ” ra lẽ kỳ diệu của tôn giáo mình đang tín ngưỡng, để bất chợt thấy lòng mình trở nên từ bi, và trái tim đã “nở hoa siêu độ”. [3]

Văn Cao đã gọi chính danh Trịnh Công Sơn là người ca thơ – để nói về các thi ca sĩ troubadour/minstrel – những sứ giả sống để phụng thờ và ca tụng tình yêu như là nguồn sáng cứu rỗi trong đêm trường Trung cổ. Một khoảnh khắc sống với quả tim yêu nồng nhiệt đáng giá hơn một trăm năm sống bằng quả tim khô héo, dù ngay cả khi ca tụng tình yêu bằng những bài tình ca không có hạnh phúc [4]


Hoặc hình ảnh sau đây:

“Em hôn trên tay mình
Để chua xót tình trần”
(Tôi ru em ngủ_Trịnh Công Sơn)

Còn hình ảnh nào đẹp hơn, lãng mạn hơn, thi vị hơn hình ảnh người con gái hôn lên tay mình để “chua xót tình trần”. Bởi vì bất cứ cuộc tình nào trong cõi trần gian đầy bi lụy này, đều không thể tránh khỏi những giọt lệ ngậm ngùi và chua xót bởi những chia cách, mất mát, đau thương, tan vỡ … Nhất là khi tình yêu đó mang những hệ lụy của một cuộc chiến phi lý:

“Tình yêu như trái phá con tim mù lòa…”
…………………………………………………………….
“…Tình yêu như vết cháy trên da thịt người”
(Tình Sầu_Trịnh Công Sơn)

Những hình ảnh thảm khốc của chiến tranh là một ám ảnh khôn nguôi trong tâm thức của người nhạc sĩ, và đã len lỏi vào trong từng ngỏ ngách sâu kín nhất của trái tim, khiến cho tình yêu cũng bị tàn phá và biến dạng. Nỗi “đau xé thịt” đã khiến “hồn mình như vá khâu”, và cuối cùng chỉ còn lại tan tác và hư hao trong “con tim tật nguyền” sau khi “cơn bão đi qua địa cầu” ……

Nếu “nhiếp ảnh gia” Linh Phương[5] “chụp” được tấm hình:

“Anh trở về hòm gỗ cài hoa” hay “Poncho buồn lịm kín đời anh”
(Kỷ vật cho em_Phạm Duy & Linh Phương)

Thì TCS lại “chụp” được những hình ảnh ghê rợn và bi thảm hơn, không phải tại chiến trường, mà ở ngay “trên con đường mòn” của những ruộng làng Việt Nam hiền hòa, thơ mộng:

“Một ngày mùa đông
Trên con đường mòn
Một chiếc xe tang
Trái mìn nổ chậm
Người chết hai lần
Thịt da nát tan”

Và có nỗi đớn đau nào hơn nỗi đau của người mẹ, khi phải tận mắt chứng kiến hình ảnh:

“Súng từ thị thành
Súng từ ruộng làng
Nổ xé da con
(Ngụ Ngôn Mùa Đông_Trịnh Công Sơn)

Hay tiếng “vỗ tay” như tiếng gào thét phẩn nộ từ thinh không của người mẹ mất trí bên xác con thơ, không biết có đủ để làm thức tỉnh lương tâm nhân loại?

“Mẹ vỗ tay reo mừng xác con,
Chị vỗ tay hoan hô hòa bình
Người vỗ tay cho thêm thù hận
Người vỗ tay xa dần ăn năn”
(Hát trên những xác người_Trịnh Công Sơn)

Những năm cuối thập niên 60 đến đầu thập niên 70, khi chiến tranh Việt Nam đang ở đỉnh điểm của những cuộc giao tranh. Phong trào sinh viên phản chiến lan tràn ở Mỹ với khẩu hiệu “Make Love Not War”, phong trào hippies, cộng với chủ nghĩa hiện sinh (Exstantialism) của Jean-Paul Sartre, Camus… du nhập vào Việt Nam, đã thổi một luồng gió mới vào cánh cửa văn học của Việt Nam, làm ảnh hưởng cách suy nghĩ cũng như lối sống của nhiều tầng lớp trí thức, điển hình là giới sinh viên, học sinh tại miền nam Việt Nam.

Sự nguy hại của thuyết hiện sinh cho giới trí thức trẻ Việt Nam là ở chỗ “ăn theo” những tư tưởng phản chiến, với thái độ bất cần, chán chường, “buồn nôn” trước những phi lý của cuộc đời vv … Trong khi đại đa số giới trẻ cũng chưa thật sự hiểu rõ ngọn ngành, hay kết cuộc của một chủ thuyết, sẽ đưa đến một kết quả gì cho tương lai, hay vận mệnh của đất nước mình. Họ chỉ đơn thuần nhắm mắt đi theo, chỉ vì tính thời thượng, và tính cách thích “nổi loạn” của tuổi trẻ thì đúng hơn!

Bối cảnh của đất nước trong giai đoạn này, đã tác động mạnh mẽ đến tư duy của những tác giả trong nhiều lãnh vưc, đặc biệt là những người cầm bút mang nặng ảnh hưởng của nền văn học lãng mạn Pháp và triết hoc Tây phương.

Trong lãnh vực âm nhạc, những sáng tác không chỉ đơn thuần diễn tả những cảm xúc tình yêu lãng mạn của đôi lứa, mà đã bắt đầu nhen nhuốm hơi hướng của thân phận con người. Mùi vị của thuốc súng, của bom đạn trong chiến tranh đã len lỏi vào trong âm nhạc qua phong trào du ca, và dòng nhạc phản chiến với Ca Khúc Da Vàng của NS Trịnh Công Sơn đã ra đời từ đó.

Ngôn từ được sử dụng trong những sáng tác âm nhạc, cũng từ đó mang tính đột phá. Và phải công nhận, những đột phá đó đã làm cho nền tân nhạc cận đại mang nhiều nét phong phú và độc đáo. Những bản tình ca của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương, Từ Công Phung, Vũ Thành An, Anh Bằng, Lam Phương, Trần Thiên Thanh, Nhật Ngân, Duy Khánh ….. sáng tác trong giai đoạn này đều bị ảnh hưởng bởi tác động của cuộc chiến, nên ca từ trong âm nhạc, không ít thì nhiều, đều mang không khí của chiến tranh. Đặc biệt trong một số tác phẩm, lại mang hơi hướng của tình yêu nhục tính, với những ngôn từ mới mẽ mang tính thời đại và táo bạo, để diễn tả tâm trạng tuyệt vọng, chán chường trong tình yêu, khi đối diện với sự ám ảnh của nỗi chết, hay sự phi lý của chiến tranh ….

Bài viết này không chỉ đơn thuần nói về khía cạnh dục tính trong âm nhạc Trịnh Công Sơn, mà còn muốn trích dẫn thêm một số “hình ảnh” trong những bản nhạc, để nói lên sự phong phú trong ngôn ngữ Việt, mà với tài năng thiên phú, những nhạc sĩ đã thể hiện một cách tài tình, khi diễn tả một hình ảnh trần tục bằng những ngôn từ thật thanh thoát…

Tôi có nêu một nhận xét riêng của mình với NS Phạm Duy về đề tài dục tính trong âm nhạc Việt Nam, với nguyên văn như sau: “Trong những bản nhạc nói về dục tính, cháu thích nhất là bài “Cúi xuống thật gần” của NS Trịnh Công Sơn và bài “Cỏ Hồng” của bác…” . Tôi nhớ là NS Phạm Duy đã im lặng, không tỏ thái độ gì với nhận xét này của tôi, nên tôi không biết là ông có đồng ý với lời nhận xét hơi đường đột của tôi hay không?

Quả thật vậy, trong suốt quá trình phát triển của nền âm nhạc Việt Nam, từ lúc tượng hình sơ khai cho đến ngày hôm nay. Và ngay cả những nhạc phẩm trong phong trào phản chiến của Mỹ, với khẩu hiệu nổi tiếng dành riêng cho cuộc chiến Việt Nam: “Make love not war”. Tôi chưa thấy một nhạc sĩ nào “dám” diễn tả thật đầy đủ, hình ảnh ân ái của đôi tình nhân, một cách rõ ràng và táo bạo như trong bản nhạc “Cúi xuống thật gần” của NS Trịnh Công Sơn.

Ở nhiều đoạn của bài hát, những hình ảnh trần trụi của cặp tình nhân đang “yêu nhau” trong “một sớm” mai, hay trong một “đêm mở hội âm thầm”, được phô bày như một bức chân dung lõa thể, qua một ống kính filter. Và sự thần sầu của cái filter, chính là cách sử dụng ngôn từ “thiên biến vạn hóa” của “phù thủy ngôn ngữ” Trịnh Công Sơn, đã cho thấy một hình ảnh nude rất nghệ thuật, và không hề có chút dung tục hay gợi dục…

Hãy lắng nghe những lời như :

“ …Cúi xuống cho tình dấy lên,
Cho da thịt mềm, cho cơn mặn nồng ngất lịm…”

Chữ “dấy” được dùng ở đây, hết sức tượng hình, khó có một chữ nào có thể thay thế được, để diễn tả hình ảnh hưng phấn, khi người tình “cúi xuống” thân thể mềm mại và nồng nàn của người con gái ….

Hay:

“ … Cúi xuống cho tắt nụ cười, cho chút da thịt người
Trong tan hoang vẫn còn bóng mát che ngang…”

Khi môi đã kề môi, thì nụ cười “mời gọi” sẽ tắt đi, để thay vào đó tiếng nói của sự im lặng trong hoan lạc của hai thể xác. Lúc đó ngôn ngữ không cần phải diễn đạt thành lời, mà vẫn có thể nghe được mỗi rung động trong từng nỗi xúc cảm … Thính giác đã trở nên dư thừa, để có thể nghe được tiếng nói của hai trái tim, đang rừng rực lửa yêu đương …. “People talking without speaking, People hearing without listening” [6].

Chữ “tan hoang” trong câu nhạc diễn tả sự trần trụi (nudity) và buông thả trong tận cùng thể xác người con gái, nhưng vẫn được “che chắn” bởi “bóng mát” ngợp trời của người tình, như một lời vỗ về dịu dàng cho tình yêu đôi lứa. …

Thử nhìn vào hình ảnh của người con trai:

“ …Cúi xuống nghe đời nhấp nhô
Nghe tim rạn vỡ Nghe trong tuổi nhỏ khóc oà …”

Động từ “nhấp nhô” (go up and down) trong câu nhạc trên, diễn tả rõ nhất hành động hoan lạc của đôi tình nhân. Những rung cảm trong từng phút giây ân ái, đã làm căng những sợi dây thần kinh xúc giác, và làm òa vỡ thành những giọt nước mắt của hạnh phúc, như niềm rung động đầu đời của những năm tháng tuổi thơ chưa một lần dậy sóng

“Cúi xuống
Cúi xuống thật gần
Cho tóc em bềnh bồng
Cơn đau anh vui lòng bóng mát trên cao”

Giọt nước mắt của hạnh phúc trộn lẫn với khổ đau cho một quê hương chinh chiến khói lửa, trong đó tuổi trẻ mang nhiều nỗi hoang mang cho thân phận mình, khi phải đối diện với những bất trắc và mất mát của chiến tranh. Cúi xuống “vùng non xanh mát” hay cúi xuống “trên bờ xót xa” thơm tóc em bềnh bồng, để quên đi ưu phiền trong phút chốc. Vì ngoài kia máu vẫn đổ, xương vẫn rơi, bom đạn vẫn đang mịt mù cày xới mọi miền của một quê hương trong khói lửa …Và 20 năm chinh chiến là 20 năm tuổi trẻ đã “no tròn tuổi biết đau thương”:

“Cúi xuống cúi xuống thật buồn
Cho nước sông cuồn cuộn
Hai mươi năm no tròn tuổi biết đau thương …”

Sự mê hoặc trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn là ở chỗ, người nghe không cần trình độ thưởng ngoạn âm nhạc cao, hay có thể chưa cần phải hiểu được một cách thấu đáo những ý tưởng, những hình ảnh ẩn dụ, trong từng lời nhạc của ông, vẫn có thể thấy bản nhạc hấp dẫn bởi giai điệu, với những quảng bốn, quảng năm gần gủi. Và khi phân tích sâu vào trong từng lời nhạc, hiểu được những tinh hoa, những ẩn dụ thật tài tình, “dấu” trong ngôn ngữ riêng của ông, thì sẽ càng thấy yêu thêm những nhạc phẩm đã thường nghe một cách chung chung..

Điển hình là trong nhạc phẩm “Cúi Xuống Thật Gần”, ông đã diễn tả được sự “tột đỉnh” của niềm hoan lạc (ejaculation), mà nếu chúng ta không “quan sát” kỹ lưởng, sẽ không bao giờ thấy được cái “thần sầu” trong cách diễn đạt ngôn ngữ của ông:

“…Cúi xuống
Nhìn sâu trong mắt
Và nghe mưa bão tan đi trong đại dương…

Ngôn ngữ Việt Nam của chúng ta phong phú và kỳ diệu nhất ở chỗ, nhiều khi chúng ta không cần phải dùng đúng nghĩa một ngôn từ, mà vẫn làm cho người nghe hiểu được chính xác điều chúng ta muốn bày tỏ…. Đó cũng là sự khác biệt giữa ngôn ngữ Đông phương và ngôn ngữ “thực dụng” Tây phương. Ví dụ trong những lời nhạc của Mỹ như:

“ … Let’s make love all night long, until our strength is gone…”
(Let’s make love_Green, Marv & Lindsey, Chris do Tim Mcgraw trình bày)

“… Me and you stay true never hesitate to make love?…”“I can hardly wait as we go through the motions, damn it’s great to make love?”
(Make Love do ban nhạc Big Bang trình bày)

Hay trong nhạc phẩm Casablanca qua giọng ca nồng nàn của Higgins Bertie với những câu như:

“ …Popcorn and cokes beneath the stars became champagne and caviar
Making love on a long hot summer’s night …”
(Casablanca_Souchon, Alain & Mac Neil Davis)

Nếu chúng ta dịch sát nghĩa những câu nhạc này sang tiếng Việt để hát lên, thì có thể sẽ bị mang tội “công xúc tu sĩ”. Hoặc nếu đang sống tại đất nước Việt Nam, sẽ bị kết tội truyền bá văn hóa “đồi trụy”, và có thể sẽ bị …“hỏi thăm sức khỏe” hay “mời” vào “trường phục hồi nhân phẩm” như diễn viên ….. Yến Vy!

Tuy nhiên, qua nghệ thuật sử dụng ngôn từ, cộng với sự thâm trầm, ý nhị của người Á Đông, những nhạc sĩ Việt Nam đã khéo léo diễn tả cũng những ý trên, với những lời lẽ rất ý nhị và thanh thoát:

* “…Cho tôi xin em như gối mộng,
cho tôi ôm em vào lòng. Xin cho một lần,
cho đêm mặn nồng, yêu thương vợ chồng …”
(Niệm Khúc Cuối_Ngô Thụy Miên)

NIỆM KHÚC CUỐI – Tuấn Ngọc

Hoặc:

* “ … Bao đêm cùng chăn cùng gối êm đềm…..
Ôi ái ân đâu rồi cơn tình ngất buông xuôi…”
(Trên Da Tình Yêu_Lê Uyên Phương)

TRÊN DA TÌNH YÊU – Thanh Hà

NS Hoàng Thanh Tâm cũng đã diễn tả sự mời gọi nồng nàn của người con gái, đi đến “đỉnh điểm” của niềm hoan lạc, trong âm nhạc của mình:

* “Người xin tìm đến bên chăn chiếu buồn
Làm cơn mưa tưới trên vườn hồn hoang”
(Cỏ lá xanh xao_Hoàng Thanh Tâm)

CỎ LÁ XANH XAO – Julie

Hay chỉ là những thể hiện tự nhiên của bản năng (basic instinct) trước tình yêu, để quên đi nỗi nhọc nhằn của phận người, trong một thế giới đã quên dần “tiếng nói yêu thương”:

* Cho nhau ngọt ngào chăn chiếu
Nghe đời nhọc nhằn trôi xa”
(Ru đời chỉ là mơ qua_Hoàng Thanh Tâm)

RU ĐỜI CHỈ LÀ MƠ QUA – Ý Lan

Trong nhạc phẩm “Cỏ Hồng” của Phạm Duy, với hình ảnh lãng mạn của đôi tình nhân, đã quen hơi nhau, và tình yêu đã “thôi khép nép”:

* “ … Cỏ không tên nằm thênh thang,
rồi vươn lên vì ta yêu nàng
Hỡi ôi con đồi ngoan ! Hỡi ôi cỏ hồng hoang!
Cỏ xanh đổi sắc theo nhân tình
Mặt trời cũng đứng soi tia lành
Cỏ hoang xao xuyến trên ngọn ngành
Đỏ như trong giấc mơ lung linh …”
(Cỏ hồng_Phạm Duy)

Cỏ xanh không tên, đã nóng lên vì ta “yêu” nàng và đổi thành hồng, rồi lại thành “đỏ như trong giấc mơ lung linh”, và cuối cùng đã biến thành cỏ “hồng hoang”, nơi mà con người “trần truồng yêu nhau trong trời đất” [7]…

CỎ HỒNG – Hoàng Thanh Tâm

Cả Phạm Duy lẫn Trịnh Công Sơn đều đã tô lên tác phẩm của mình một gamma màu nóng đỏ, như một điểm nhấn, để diển tả sự đam mê rạo rực, và nỗi khát khao tù đày của thân xác:

* “…Cúi xuống Trên bờ xót xa
trên cơn lửa đỏ, trên khuôn mặt đã im lìm…”

Nếu có một giải thưởng âm nhạc về nhạc phản chiến với chủ đề là “Make Love Not War”, thì thiết nghĩ có lẽ NS Trịnh Công Sơn sẽ là người xứng đáng nhất, để nhận giải thưởng này với tác phẩm “Cúi xuống thật gần”, bởi giá trị nghệ thuật, tính thẩm mỹ, tính văn học, và bởi nội dung thật “khít khao” với “chủ đề” trong nhạc phẩm độc đáo này, như nhận định của NS Phạm Duy trong hồi ký của ông, khi nói về NS Trịnh Công Sơn:

“Trịnh Công Sơn muốn nói lên nỗi đau con người trong cuộc sống hiện đại, có tình yêu, có chiến tranh, có hận thù, có cái chết dễ dàng như chết trong mơ. Anh ca tụng tình yêu và — cũng như bất cứ nghệ sĩ nào ở trên đời này — anh chống bạo lực và chống chiến tranh” [8]


TCS đã bày tỏ thật rõ thái độ của mình trước chiến tranh. Ước vọng của suốt một đời người, cho đến bạc đầu, là chờ đợi phút giây nhiệm mầu sẽ đến, để lấp đầy những khao khát của một trái tim biết đau thương, khi đứng trước những hoang tàn đổ nát trên quê hương của mình…
Hãy nghe lại những câu nhạc trong “Cúi xuống thật gần”, với những lời van xin tha thiết của ông, như một lời nguyện cầu sau cùng sau 20 năm chiến chinh khói lửa:

“Cúi xuống, cúi xuống thật gần.
Cho trái tim đập dồn

Cho đam mê thay vào đổ nát quê hương

…………………………………………………….

Cúi xuống, cho đến bạc đầu.
Trên phút giây nhiệm mầu

Hai mươi năm xin còn một sớm thương nhau”

CÚI XUỐNG THẬT GẦN – Khánh Ly

1) Cúi xuống
Cho máu ngược dòng
Cho nước sông cạn nguồn
Cho cây khô trên cành trút lá bơ vơ

Cúi xuống
Cho bóng đổ dài
Cho xót xa mặt trời
Cho da thơm trên người nay cũng phôi pha

Cúi xuống
Nghe đời nhấp nhô
Nghe tim rạn vỡ
Nghe trong tuổi nhỏ khóc oà

Cúi xuống
Trên bờ xót xa
Trên cơn lửa đỏ
Trên khuôn mặt đã im lìm

Cúi xuống
Nhìn sâu trong mắt
Và nghe mưa bão tan đi trong đại dương

Cúi xuống
Cúi xuống thật buồn
Cho nước sông cuồn cuộn
Hai mươi năm no tròn tuổi biết đau thương

Cúi xuống
Cho tắt nụ cười
Cho chút da thịt người
Trong tan hoang vẫn còn bóng mát che ngang

2) Cúi xuống
Cúi xuống thật gần
Cho trái tim đập dồn
Cho đam mê thay vào đổ nát quê hương

Cúi xuống
Cúi xuống thật gần
Cho chiếc hôn ngọt nồng
Cho trăm năm ưu phiền phút chốc hư không

Cúi xuống
Cho tình dấy lên
Cho da thịt mềm
Cho cơn mặn nồng ngất lịm

Cúi xuống
Cho đời lãng quên
Cho mây trời chìm
Cho đêm mở hội âm thầm

Cúi xuống
Vùng non xanh mát
Và cao tiếng hát cho cơn ưu phiền tan

Cúi xuống
Cúi xuống thật gần
Cho tóc em bềnh bồng
Cơn đau anh vui lòng bóng mát trên cao

Cúi xuống
Cho đến bạc đầu
Trên phút giây nhiệm mầu
Hai mươi năm xin còn một sớm thương nhau


Niềm mơ ước của NS Trịnh Công Sơn, vẫn là ước vọng của hàng triệu con tim Việt Nam hôm nay, bởi vì sự đổ nát của quê hương vẫn còn đó! Không phải từ bom đạn chiến tranh, mà là sự đổ nát toàn diện giữa niềm tin con người đối với con người. Sự đổ nát của lương tâm nhân loại, khi đứng trước những nỗi đau và bất hạnh của con người. Sự đổ nát trong băng hoại của những khối óc vô tri, của những trái tim vô cảm. Và sự đổ nát trong tâm hồn của những thế hệ mầm non, tuổi trẻ không được dạy những đạo lý làm người, để phân biệt giữa ĐÚNG_SAI, THIỆN_ÁC, HAY_DỠ, ĐẸP_XẤU …là những mất mát lớn lao nhất cho dân tộc Việt Nam, và là nỗi bất hạnh triền miên làm nung nấu những trái tim Việt Nam, đang khao khát một nền tự do, dân chủ, nhân ái, và công bằng thật sự cho quê hương …

NS Trịnh Công Sơn và biết bao tài năng nữa của đất nước, đã bị lợi dụng cho những mưu đồ chính trị bẩn thỉu, cũng chính bởi sự khao khát chính đáng này. Ước mơ về những “ảo vọng thiên đường” của một thiên tài âm nhạc trong ông, đã khiến ông phải mang “niềm tuyệt vọng” cho đến cuối đời mình!

LỜI TỰ SỰ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN – Trịnh Công Sơn

Chúng ta không “oán trách” thái độ “tiến thoái lưỡng nan” [9] của ông, bởi vì nghĩ cho cùng, ông chỉ là một người nghệ sĩ yếu đuối, đã thổ lộ tình yêu của mình với cuộc sống, và đã giữ được lòng chân thật với cuộc sống này. Và cũng chính ông đã “linh cảm” được trước những ước mơ trong suốt cuộc đời mình, chỉ là những “giấc mơ đời hư ảo”, (illusion) cũng như giấc mơ của biết bao văn nghệ sĩ của những thế hệ trước ông, đã bị “tàn lụi” trong đau đớn ngậm ngùi ….

Tuy nhiên, nếu không muốn làm kẻ vong ân, thì chúng ta phải biết tri ân những gì mà NS Trịnh Công Sơn, khi “ghé qua” cuộc đời này, đã để lại cho chúng ta những tặng phẩm vô giá, với hàng trăm “áng thơ” tuyệt tác, mà có người đã nhận định rằng, có thể đến 100 năm hay hơn nữa, chúng ta mới có được một tài năng, đem đến cho cuộc đời này những tặng phẩm như Trịnh Công Sơn đã ban tặng cho chúng ta.”

Riêng tôi, cũng xin được cảm tạ những “giấc mơ đời hư ảo” của ông. Bởi vì cũng chính nhờ vào đó, khi chúng ta không bằng lòng với thái độ “tiến thoái lưỡng nan”, là lúc chúng ta sẽ bước ra khỏi “những giấc mơ đời hư ảo”, để tiến đến những ước mơ có thật trong đời. “Ước mơ có thật”, chắc chắn sẽ thành hiện thực một ngày không xa. Bởi vì ước mơ đó không dựa trên một chủ thuyết nào, và cũng không dựa trên tham vọng của bất cứ một cá nhân hay quyền lực nào cả, mà chỉ là ước vọng chính đáng của cả một dân tộc với hơn 80 triệu người. Một dân tộc đã bị quá nhiều lầm than, điêu đứng và lừa dối bởi lòng tham của con người.

Xin hãy thắp lên một ngọn nến lung linh trong tâm hồn, để cầu nguyện cho những ước mơ có thật, và xin hãy nguyện cầu cho tình yêu trong trái tim của mỗi người trong chúng ta, sẽ mãi mãi là ngọn lửa yêu thương, thắp sáng tinh cầu chúng ta đang trú ngụ hôm nay…
Sài Gòn, một ngày tháng 7/2009
Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm

Chú thích:
[1] Trong bài Lịch sử Tân nhạc Việt Nam nhạc sĩ Trần Quang Hải gọi đây là “giai đoạn tượng hình”. Còn nhạc sĩ Phạm Duy cho rằng những năm đầu thập niên 1930 là “thời kỳ đi tìm nhạc ngữ mới” (Nguồn: Wikipedia tiếng Việt : Tân Nhạc Việt Nam)

[2] Tựa đề một bài viết về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, đăng trên báo Văn Nghệ ngày 23/08/2002

[3] Trích từ câu thơ: “Nước mắt em trên chánh điện tình, nở hoa siêu độ hóa tâm kinh” trong bài thơ: “Vì em tôi đã làm sa di” của thi sĩ Du Tử Lê

[4] Trích đoạn bài viết “Chiêm ngắm đóa hoa vô thường” của tác giả Hà Vũ Trọng, Toronto 2.5.2001
in trong Hợp Lưu, số 59 (tháng 6-7/2001), tr. 16-28.

[5] Linh Phương, nhà thơ quân đội, tác giả bài thơ “Để trả lời một câu hỏi”, đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành ca khúc nổi tiếng “Kỷ Vật Cho Em” vào năm 1970

[6] Trích đoạn lời bài hát “The sound of silence” của Simon & Garfunkel

[7] Câu nhạc trích từ nhạc phẩm “Hạ Hồng” của nhạc sĩ Phạm Duy

[8] Trích trong hồi ký Phạm Duy III, thời phân chia Quốc – Cộng

[9] Tựa đề một nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn sáng tác khoảng năm 1998


17 Responses to “DỤC TÍNH TRONG ÂM NHẠC TRỊNH (Hoàng Thanh Tâm)”


  1. 1 agonboy
    21/07/2009 at 12:00 PM

    Hihi
    Lẩm nhẩm hát "Mưa bên chồng có làm em nhớ những khi mình…làm tình" tự nhiên phát ra cười không nín được.

    Đệ lên núi tu cho bớt cái tính "đạo tặc" nhưng sau khi xuống núi vẫn chứng nào tật đó. May mà nhà huynh không nuôi begger không thì thế nào cũng bị …cẩu xực🙂

  2. 2 Nhạc Sĩ HOÀNG THANH TÂM
    21/07/2009 at 9:54 AM

    Cám ơn bạn Tây bụi đã trích dẫn 2 nhạc phẩm ngoại quốc thật hay với những lời lẽ bóng gió và đầy tính ẩn dụ khi muốn đề cập đến sự ham muốn tình dục dẫn đến tội lỗi trong tình yêu, nhất là bài “Hallelujah” của Leonard Cohen.

    Tôi đồng ý với bạn là ngôn ngữ nào cũng có cái hay của nó, nhưng riêng cá nhân tôi, tôi vẫn quan niệm sự ý tứ và tế nhị của những ca từ trong âm nhạc, qua nghệ thuật sử dụng những từ ngữ mang tính văn học, sẽ làm cho bản nhạc có một giá trị nghệ thuật, hơn là dùng lối nói tả chân như trong văn chương tiểu thuyết hay lối nói ở ngoài đời.

    Thêm một điều nữa là chúng ta không thể đánh giá, hay so sánh giá trị của 2 tác phẩm cùng một đề tài, ở hai ngôn ngữ khác nhau. Vì mỗi ngôn ngữ đều có cái hay để diễn đạt ý tưởng cho riêng ngôn ngữ đó, và khi chuyển sang ngôn ngữ khác, có khi ta phải thay đổi chữ nghĩa để chỉ chuyển ý của lời nhạc mà thôi.

    Ví dụ như nếu câu nhạc của Mỹ là:

    When he holds you in his arms and kisses on your lips every rainy nights, do you think of the moment when we made love?

    Câu này là một câu nhạc với lời lẽ lãng mạn rất tự nhiên và bình thường, và có thể là thi ngữ đối với ngôn ngữ tiếng Anh, nhưng nếu ta mượn câu nhạc của Vũ Thành An để dịch sang tiếng Việt, thì sẽ là:

    Mưa bên chồng có làm em nhớ, những khi mình làm tình?

    Rõ ràng đối với tiếng Việt, đây không phải là thi ngữ nữa mà là….. dâm ngữ!
    Và chỉ cần đổi chữ “làm tình” thành chữ “mặn nồng”, là chúng ta sẽ có một câu nhạc lãng mạn giống như câu nhạc tiếng Anh trên.

    Đó là sự khác biệt thuần túy giữa 2 văn hóa và ngôn ngữ, và cách sử dụng từ trong âm nhạc của mỗi quốc gia, không hề liên quan gì tới vấn đề kiểm duyệt hay không kiểm duyệt cả…

  3. 3 tây bụi
    20/07/2009 at 11:18 PM

    Bài viết của nhạc sĩ có nhiều ý hay. Tôi cũng đồng ý về sự phong phú của tiếng Việt nhưng tôi nghĩ ngôn ngữ nào cũng thế. Tiếng Anh cũng đầy đủ hoán dụ, ẩn dụ, ngoa ngữ, v.v. Tôi nghĩ vì nhạc Mỹ không có một truyền thống kiểm duyệt thì các nhà thơ các nhạc sĩ Anh / Mỹ hay viết lời về tình dục một cách rất thẳng thắn.

    Tôi xin nói đến hai thí dụ những tác phẩm tiếng Anh gian tiếp viết về tình dục là "Putting in the Seed" của Robert Frost hay bài ca "Hallelujah" của Leonard Cohen.

    Nói thế tôi cám ơn nhạc sĩ phân tích các bài ca tiếng Việt.

  4. 4 Nhạc Sĩ HOÀNG THANH TÂM
    20/07/2009 at 11:37 AM

    Huy thân mến,

    Âm nhạc của TCS và của những tác giả khác trích trong bài viết này rất du dương đúng như em nhận xét, nhưng nếu em nói “… còn em ngẫm đi ngẫm lại rồi vẫn chỉ thấy có nhạc du dương mà thôi, không "ra" được chút gì cả!…” là em hơi vô tâm trước những mơ ước của biết bao người có tấm lòng, mà anh muốn bày tỏ trong bài viết này……

    Khi em biết “rùng mình, hoảng sợ trước hình ảnh quá thảm khốc của chiến tranh”, thì em cũng nên hiểu sự hy sinh xương máu của biết bao người lính ở cả 2 miền đất nước là một sự hy sinh thật oan uổng! Vì xương máu của gần 5 triệu người Việt Nam trong chiến tranh và hơn 2 triệu người dân đã bỏ thây trên biển cả, chỉ để làm giàu cho một thiểu số cầm quyền hiện nay, đang “ăn trên ngồi trước” và coi sinh mạng, quyền lợi của người dân đen như cỏ rác. Đó cũng chính là nỗi đau của hơn 80 triệu thân phận hèn mọn đang sống ngay trên quê hương khốn khổ, và hơn 2 triệu sinh linh đang lạc loài ở khắp mọi miền trên quả địa cầu này….

    Anh có thể hiểu bằng trực giác của mình: với nỗi sợ hãi đã ăn sâu trong tâm khảm, em sẽ không dám nói ra những suy nghĩ thật của mình…. Nhưng anh tin rằng những người tuổi trẻ có tấm lòng và chiều sâu tâm hồn như em, sẽ hiểu và cảm thông được với những gì đang xảy ra hằng ngày chung quanh mình….

    Hãy trau dồi những kiến thức chuyên môn mà em đang có, và hãy giữ vững lòng nhân của mình, vì đó là những hành trang quý báu của tuổi trẻ, sẽ giúp em góp phần xây dựng lại trong tương lai, những gì đang đổ vỡ trên quê hương yêu dấu của chúng ta ….
    Thân mến,
    NS Hoàng Thanh Tâm

  5. 5 Quán dốc
    18/07/2009 at 11:42 PM

    Hi anh Tâm, hôm nay thi xong em mới có dịp đọc và ngẫm được bài viết này. Nói là ngẫm thì cũng không đúng lắm vì khi ngẫm người ta sẽ nhận thấy nhiều điều còn em ngẫm đi ngẫm lại rồi vẫn chỉ thấy có nhạc du dương mà thôi, không "ra" được chút gì cả! Bàn về "dục tính",có lẽ em không bàn nổi rồi vì bản thân của em còn chưa "làm cho đến chốn" chữ "dục" đó… cho nên em chỉ bàn vài vấn đề loanh quanh thôi. Thứ nhất trong bài anh có nhắc đến 1 câu nhạc mà em rất thích: "Có khi nắng khuya chưa lên, mà một loài hoa chợt tím", có một nhạc sĩ đã nói là trong câu này chữ "mà" mới là quan trọng nhất bời ta không thể dùng được một từ anh ngữ nào có thể dịch được chữ này trong câu, nó tạo 1 trạng thái đối lập giữa hai vế khiến câu nhạc có ý như sau: Bình thường, "nắng khuya" lên,hoa mới tim, hôm nay, "nắng khuya" vẫn chưa lên "mà" hoa đã tím rồi,chính bởi lòng ta tím!,em yêu câu này là vì vậy. Thứ hai, đối với lớp hậu sinh như em thì chiến tranh đã trở thành quá khứ, cho nên cái tâm trạng sống trong chiến tranh,có lẽ tụi em không thể nào hình dung một cách chính xác được, nhưng khi nghe đến câu hát "người chết hai lần, thịt da nát tan" em bỗng chốc rùng mình, hoảng sợ trước hình ảnh quá thảm khốc của chiến tranh, vì lẽ đó câu nhạc này cũng là một câu em rất thích. Thứ 3, trong bài anh có bàn về dục tính trong âm nhạc HTT, điển hình là hai bản "Cỏ lá xanh xao" và "Ru đời chỉ là mơ qua",em lấy làm thắc mắc không biết là sao anh không trích bản "Tháng sáu trời mưa" để đưa làm dẫn chứng trong bài viết này? Có phải chăng do lời bản này do anh phổ thơ của Nguyên Sa? Nhưng theo em, cái lời đó nó chỉ là 1 phần tạo nên sự "gợi cảm, đam mê" của TSTM, chính cái âm nhạc dặt dìu của HHT đã nâng câu chữ lên thành một nỗi khát khao dâng tràn, liệu mình có thể gọi đó là "dục tính" được không? Như vậy, "dục tính" trong âm nhạc không chỉ ở trong lời hát mà còn ở trong những nốt nhạc, chính cái bổng trầm của trương khúc đã nâng những cảm xúc lên dạt dào và từ đó nảy mầm lên "dục tính"… Hôm nay em hơi say, cho nên nói năng chắc có lẽ không có gẫy gọn và đôi phần linh tinh…mong anh thông cảm hén …hihi… em đi nghe "Tháng sáu trời mưa" và ngủ …

  6. 6 Nhạc Sĩ HOÀNG THANH TÂM
    18/07/2009 at 11:30 AM

    Ngay chính trong câu nhạc bạn đã đề cập, hãy nhìn vào câu trước đó:

    “… Cúi xuống cho tắt nụ cười
    Cho chút da thịt người
    Trong tan hoang vẫn còn bóng mát che ngang…”

    chữ “cho” diễn tả một kết quả liên đới với động từ “cúi xuống”. Không phải là chữ “đã” hay bất cứ chữ nào khác… Nghĩa là sau khi … cúi xuống thì nụ cười mới tắt. Và nếu theo cái “senario” của bạn, thì nụ cười ở đây là “vô nghĩa” hoàn toàn… Vì thứ nhất “người chết” không thể cười được, và thứ hai “người sống” lại càng không thể cười trước cái xác của người chồng vừa tử trận, trừ khi người vợ đã “mất trí”, như hình ảnh của người mẹ trong bài “Hát trên những xác người”.

  7. 7 Nhạc Sĩ HOÀNG THANH TÂM
    18/07/2009 at 10:07 AM

    Còn thêm một số chi tiếc khác là, nếu cúi xuống xác của người tình thì không thể có những hình ảnh sau:

    "…Cúi xuống
    Cúi xuống thật gần
    Cho trái tim đập dồn
    Cho đam mê thay vào đổ nát quê hương…"

    "… Cúi xuống
    Cho tình dấy lên
    Cho da thịt mềm
    Cho cơn mặn nồng ngất lịm…"

    "… Cúi xuống
    Cho đời lãng quên
    Cho mây trời chìm
    Cho đêm mở hội âm thầm…"

    Nếu người chồng của người vợ trẻ vừa tử trận, thì chắc chắn người vợ không thể có “đêm mở hội” để âm thầm “ăn mừng”, bằng những “cơn mặn nồng ngất lịm” hay những “đam mê” nồng cháy để thay vào nỗi mất mát của mình được cả!

  8. 8 Nhạc Sĩ HOÀNG THANH TÂM
    18/07/2009 at 9:38 AM

    Chào bạn Trúc Ly,

    Nếu bạn cho rằng câu nhạc “Trong tan hoang vẫn còn bóng mát che ngang” diễn tả mái tóc người nữ che trên khuôn mặt của người chồng đã tử trận, thì hoàn toàn mâu thuẩn với tất cả những hình ảnh trong bài hát này. Bởi vì lời lẽ trong bản nhạc đã xác định cũng như cho thấy một cách logic, “vị trí” của người con trai là “ở trên” cúi xuống người con gái, chớ không phải như bạn nghĩ!

    “… Cúi xuống
    Cúi xuống thật gần
    Cho tóc em bềnh bồng
    Cơn đau anh vui lòng bóng mát trên cao…”

    Thân mến,
    NS Hoàng Thanh Tâm

  9. 9 Anonymous
    18/07/2009 at 5:54 AM

    Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm thân mến,
    Cám ơn nhạc sĩ về một bài viết thật hay về nhạc TCS. Tuy nhiên, bài “Cúi xuống thật gần” theo chính chú Trịnh Công Sơn cho biết ông sáng tác bài này sau một cuộc chiến vừa tàn. Ông nhìn thấy một người vợ trẻ ra nhận xác và đang ôm người chồng vừa tử trận mà than khóc, và câu “Trong tan hoang vẫn còn bóng mát che ngang” là khi ông nhìn thấy mái tóc người vợ trẻ che lên khuôn mặt đẫm máu của người lính trẻ VNCH vừa hy sinh trong trận chiến.
    Trúc Ly

  10. 10 Nhạc Sĩ HOÀNG THANH TÂM
    14/07/2009 at 10:40 PM

    Agonboy à! Không biết khi lên núi em có làm điều gì “bậy bạ” không, mà sau khi xuống núi lại không đi thẳng vào cửa chính, mà lang thang ngoài bờ rào, rồi leo rào vào nhà, rồi đi thẳng xuống bếp?!
    Hay là Agon đã lỡ dại “cúi xuống thật gần” với một sơn nữ xứ mặt trời mọc rồi, nên sợ bị nàng “níu áo” bắt đền nên không dám vào nhà ngay?
    Nếu vậy thì phải thành thật khai báo và tạ lỗi với “thần núi” là con đã phạm điều răn thứ 6 của Chúa, và nhớ đi xưng tội với “cha” Richard Chamberlain trong ”thorn bird” ….Hihi

  11. 11 Nhạc Sĩ HOÀNG THANH TÂM
    14/07/2009 at 9:28 PM

    Chào min LVT,
    Em có lòng đến với âm nhạc, và biết trân trọng với những sáng tác nghệ thuật là em đã hơn nhiều người rồi đó, chớ chẳng phải là "kẻ tầm thường" như em nghĩ đâu! Chúc em vui và thu thập được nhiều ý nghĩa hay đẹp của cuộc sống qua âm nhạc!
    Thân mến,
    NS Hoàng Thanh Tâm

  12. 12 min LVT
    13/07/2009 at 4:00 PM

    em mới biết tới blog này của anh !em cũng không phải người đam mê âm nhạc, cũng không hiểu biết nhiều về âm nhạc… có lẽ cũng như bao kẻ tầm thường đến với âm nhạc chỉ biết nghe ! em rất trân trọng những giá trị sáng tác nghệ thuật, đến với blog của anh, hy vọng em sẽ hiểu được 1 phần về âm nhạc! chúc anh luôn có cảm xúc sáng tác

  13. 13 agonboy
    13/07/2009 at 1:10 PM

    Thẳng xuống nhà bếp:

    Trong tiếng Việt, xưng hô rất….. “không dân chủ” bởi tùy theo đối tượng mà người ta thay đổi đại từ nhân xưng, không thể như tiếng Anh chỉ cần “I,you, me, you” mà được. Ví dụ “I love you” của tiếng Anh dùng được cho tất cả mọi trường hợp nhưng sang tiếng Việt phải tùy theo người đứng trước mặt là ai để mà thành “anh yêu em, em yêu anh, bố yêu con, mẹ yêu con, bà yêu cháu, ông yêu cháu, chị yêu em….” và cứ thế mà nối dài, chưa kể “yêu” và “thương” còn lắm chuyện phải bàn nữa. Biết làm sao được, đặc trưng ngôn ngữ là như thế.Yêu nhau nào chỉ có “anh, em”, ở VN bây giờ ngoài nam và nữ còn có “giới tính thứ ba”. Có lẽ một ngày nào đó, sẽ có cách riêng diễn tả “I love you” của giới tính này.
    Cũng do đặc trưng ngôn ngữ, tiếng Việt hợp với những bài ballad và lối diễn tả tình cảm ẩn dụ hơn là bộc tuệch kiểu “making love in a hot summer night”mà không hợp với rap, hip-hop.Tuy nhiên, đối với giới trẻ ở VN và gốc Việt trên thế giới thì sự tình có hơi khác. Giới trẻ ở VN theo độ tuổi được gọi là 8x, 9x. Khác với thế hệ cha anh, họ có Ipod để nghe nhạc dạng mp3, ăn fastfood, tỏ tình bằng E-mail và sex qua webcam, mobile phone. Thế hệ trẻ gốc Việt ngoài đặc điểm nhân dạng và một chút vốn liếng Việt ngữ vụn vặt học được ở gia đình, họ chẳng khác người bản xứ nơi họ đang sống. Họ có thể ghét phở mà thích mì ống, mê hamburger hơn là bánh mì xíu mại. Bất kể tốt hay xấu, phải nhận chân một điều rằng hiện thực cuộc sống khác đi từng ngày từng giờ. Cách diễn tả và cảm nhận âm nhạc, ca từ của những người trẻ như thế chắc chắn khác xưa rất nhiều. Đã có bài hát mang tựa đề “Sao Em Bắt Anh Phải Yêu Em?”(Điền Thái Toàn) rồi thì ngày chào đời của “Let's make love all night long, until our strength is gone” bằng “tiếng Việt không son phấn”(xin lỗi, mượn tựa đề cuốn sách của Cố GS Nguyễn Đình Hòa có vẻ không đúng chỗ nhưng không tìm ra lỗi diễn tả nào hay hơn) sẽ không còn xa ( không chừng đã có rồi cũng nên).

    Ra ngõ sau ngoái cổ lại:

    Anh Tâm ơi,
    Cám ơn anh đã cho nghe version live của “Cỏ Hồng”.
    Dù cùng trình bày nhạc Trịnh, A thích cô Khánh Ly thời “Ca Khúc Da Vàng” hơn sau này nhưng bài “Cúi xuống thật gần” thì giọng mệt mỏi của cô lại hợp tình hợp lý🙂 Mấy ngày rồi A đi cắm trại trên núi, đến một nơi không net, cell phone "out of service area", ở giữa thiên nhiên mát mẻ. Về nhà tối qua, mở ra thấy bài viết của anh về dục tính và sau khi đọc xong, nghe xong thì phải hát lại bài của TCS rằng “xuống núi thấy tình dấy lên”. Hihi.

  14. 14 agonboy
    13/07/2009 at 1:09 PM

    Leo cổng vào nhà:

    Đứng từ góc độ người nghe nhạc, tôi cũng yêu thích “Cỏ hồng” như Hoàng nhạc sĩ nhưng với Trịnh Công Sơn thì thích “Quỳnh hương” hơn là “Cúi xuống thật gần”. Với ca từ của “Cỏ hồng”, tôi mường tượng ra được hình ảnh yêu đương ngất ngây của đôi uyên ương còn với “Cúi xuống thật gần” tôi thấy hình ảnh nam nhi chua chát. Cũng là ái ân, sao lại có thứ ái ân cay đắng nhường này.
    Không còn tuổi trẻ để ngẩng cao đầu, chỉ còn mái tóc bạc theo tháng năm( hay là chẳng còn sợi để bạc). Không còn tự hào ngửa cổ với thiên hạ vì chí nam nhi, lý tưởng sống, chỉ còn biết cúi đầu trước đau thương, lửa đỏ, trên “khuôn mặt đã im lìm”. Dục chính là bản năng sống còn. Còn đây để thấy “tình dấy lên” nhưng không thể ngửng cao đầu yêu đương được mà phải cúi xuống với “con tim rạn vỡ”, buồn bã “tắt nụ cười”. Cúi xuống đổi “hai mươi năm” lấy một “giây phút nhiệm màu”. Ôi chao là đắt!

    Trịnh Công Sơn có nhiều người thương mến, hâm mộ mà cũng lắm kẻ ghét bỏ, hằn học kể cả khi ông đã ra người thiên cổ. Yêu ghét là chuyện thường tình ở đời và tôi cũng đồng ý là yêu một người và yêu cái tốt của một người là hai chuyện khác nhau. Tiếng Việt ta thường diễn tả hành động thưởng thức âm nhạc là “nghe nhạc”. Vâng, thính giả chỉ cần “nghe nhạc”, cảm nhận âm nhạc là đủ rồi. Thích thì nghe, không thích thì dẹp. Đừng mang đời tư người nhạc sĩ ra soi mói làm gì bởi ở đời có ai hoàn hảo. Tôi không yêu nhạc Trịnh bởi vì ông ở VN, không đi vượt biên như các nhạc sĩ khác và tôi cũng không ghét nhạc Phạm Duy bởi vì ông nhất quyết bỏ “thị trấn giữa đàng” của ông cùng với các bạn bè để về VN. Sách vở thánh hiền dạy rằng “trung dung là đạo của trời đất” nhưng sống ở trên đời không phải lúc nào cũng trung dung được. Ở ngoại quốc thì hoặc phải đi theo lề phải hoặc phải cặp lề trái, ai đi giữa đường nhẹ thì bị cảnh sát công lộ cho vào bót, nặng thì chết tan thây. (Ở VN thì lề trái lề phải gì cũng vượt được, kẹt xe thì cả người lẫn xe leo lên lề tìm đường tiến tới, nước lụt thì thuê đò chở người và xe tới chỗ khô. )Phần lớn những chọn lựa của một người không phải do người ấy chủ động. Chẳng qua người ấy tưởng mình chủ động hoặc bị/được cho là chủ động mà thôi.

  15. 15 agonboy
    13/07/2009 at 1:07 PM

    Luận ca từ, luận dục tính
    Lan man theo dòng phiếm luận của Hoàng nhạc sĩ

    Đi loanh quanh ngoài bờ rào:

    Trước hết, xin thưa tôi không phải là “nhà” nào trong số các nhà: soạn nhạc, bình luận, nghiên cứu, chính trị, tư tưởng, tôn giáo….Tôi chỉ là một blogger tình cờ lạc chân vào “sân chơi” của Hoàng nhạc sĩ và từ đó nên duyên giao lưu. Bởi thế, những điều tôi sắp lan man dưới đây chỉ là những nhận xét chủ quan và cảm tính của cá nhân dựa theo những dòng phiếm luận của Hoàng nhạc sĩ.

    “Bố già” Phạm Duy có câu ca để đời rằng: “Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời người ơi” và hễ đã yêu thì “yêu cả đường đi” nên ta có quyền “chủ quan và dân tộc tính” để nói rằng tiếng Việt ta giàu đẹp và phong phú. Tuy nhiên, công bằng mà nói thì tiếng Việt cũng như mọi thứ tiếng khác trên thế giới này, không nghèo cũng chẳng giàu có hơn bất kỳ ngôn ngữ nào. Ta cảm thấy tiếng Việt giàu có và phong phú hơn những thứ tiếng khác ta học như là những ngoại ngữ bởi vì hai lẽ:
    (1)Tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ và ta có thể dùng nó một cách tự do và khéo léo nhất để diễn tả những tình cảm tinh tế nhất của mình.
    (2)Ta yêu tiếng Việt thì tất tiếng Việt phải là nhất. Miễn bàn thêm!

    Niềm yêu mến và tự hào này không có gì xấu nếu không muốn nói là cần phải có nhưng ta cũng phải tỉnh táo để đừng bị lôi kéo đến chỗ cực đoan. Ngành nghiên cứu về lịch sử ngôn ngữ dẫn người ta đến một kết luận rằng không có ngôn ngữ nào là “thuần” cả. Tất cả vay mượn lẫn nhau, pha trộn lẫn nhau và tất cả đều ngày càng phát triển, đều phong phú thêm lên so với buổi đầu sơ khai. Nếu không còn được dùng nữa thì dù được khen là hoàn hảo như Latin cũng thành tử ngữ. Buổi đầu, tiếng Việt ta vay mượn rất nhiều từ tiếng Hán, tiếng Mường, sau này từ tiếng Pháp, tiếng Anh…Mỗi một ngôn ngữ có một đặc trưng riêng, có vay mượn đi nữa vẫn có nét riêng. Chuyện không có gì đáng tự hào cũng chẳng có gì đáng tự ti. Quy luật khách quan là như thế, lịch sử tồn tại như thế.
    Như đã được nêu trong bài phiếm luận, rõ ràng không có khuôn phép nào cho một ca từ hay. Hay dở tùy thuộc vào tài năng, cảm nhận và trải nghiệm của người nhạc sĩ, người viết lời. Và như thế có lẽ ca từ chỉ hay khi người sáng tác sử dụng ngôn ngữ tinh tế và vi diệu nên dùng tiếng mẹ đẻ dễ đạt hơn dùng ngoại ngữ. Nhiều nhạc sĩ, văn sĩ ở nước ngoài nhiều năm, nói tiếng nước ấy như tiếng mẹ đẻ nhưng vẫn chỉ hay (hoặc được công nhận là hay) khi dùng tiếng mẹ đẻ để sáng tác(ở đây còn phải tính đến người thưởng thức nữa)

  16. 16 Nhạc Sĩ HOÀNG THANH TÂM
    13/07/2009 at 12:52 AM

    Cám ơn comment của bạn Hải, cùng với câu mở rộng lời trích dẫn của Maiakovsky rất nhiều. Lời kết trong comment của bạn đã làm tăng thêm ý nghĩa của bài viết này!

    Tôi là người luôn luôn yêu quý sự thật thà từ trái tim, cho nên tôi không chống đối hay ghét bỏ những gì chân thật từ trái tim con người. Nhất là khi con người đó là một tài năng của đất nước như NS Trịnh Công Sơn.

    Người Việt chúng ta thường hay có thái độ “vơ đủa cả nắm”, ngay cả trong việc phán xét những điều tốt xấu của con người, và cũng thường đễ bị “khích động” để hùa theo số đông, hay một “phong trào” đang được là điểm chú ý của một dư luận dễ dãi… Sự hấp tấp đó dễ dẫn đưa tới những định kiến sai lầm, khi đánh giá một sự việc theo quán tính. Những tư tưởng hay thái độ cực đoan, rất dễ bị lợi dụng cho những mưu đồ đen tối. Điều này đã được lịch sử chứng minh và chúng ta đã bị trả giá bằng xương máu của hằng triệu người Việt Nam ở cả 2 miền Nam Bắc…

    Chúng ta nên phân biệt 2 tiên đề sau:

    Yêu cái tốt của một người, và ghét cái xấu của người đó,
    với
    Yêu một người tốt và ghét một người xấu.

    Hai định đề này hoàn toàn khác nhau!

    Nghĩa là khi ta ghét cái xấu của người đó, rồi kết luận người đó là người xấu, là chúng ta đã đánh giá một sự việc theo quán tính, và sẽ dễ rơi vào trạng thái cực đoan.

    Có thể lấy một ví dụ từ cá nhân tôi: Tôi không thích nhạc phẩm ”Đời gọi em biết bao lần” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, và tôi đã viết ca khúc “Vết thương đời của em” để nói lên sự khác biệt trong nhận thức của tôi về đề tài nhạy cảm này. Nhưng như thế không có nghĩa là tôi không thích những nhạc phẩm khác của TCS, hay ghét bỏ người nhạc sĩ tài hoa này….

  17. 17 PVH
    12/07/2009 at 4:40 PM

    Một bài viết quá công phu!

    Hân hạnh được biết thêm một người (hơn nữa lại là một nhạc sĩ) đồng cảm với mình trong quan điểm: Chống độc tài đảng trị nhưng không có ác cảm với NS Trịnh Công Sơn.

    Tác giả đã nêu bật vai trò của ca từ trong một ca khúc, bên cạnh yếu tố giai điệu. Ở VN sau thời mở cửa vẫn thiếu vắng những ca khúc có giá trị vì người sáng tác quá coi nhẹ vai trò của ca từ.

    Một góc nhìn "dục tính" rất thú vị về bài Cúi Xuống Thật Gần của NS. TCS!

    Ở đầu bài tác giả đã trích dẫn một câu của Maiakovsky. Xin mạn phép mở rộng nó để làm kết cho nhận xét của bài viết nầy:
    …và "Ngôn từ khi được cất lên với giai điệu của trái tim sẽ là thần tướng của đạo binh Nhân bản"

    (P/s: Anh gửi bài này cho DCVOnline để bà con vô còm-mên phản biện cho vui. Đảm bảo rôm rả hơn chợ Tết vì trên đó nhiều vị chống TCS ghê lắm)


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s


Ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại!

July 2009
M T W T F S S
« Jun    
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  
Trang website này là một nỗ lực do NS Hoàng Thanh Tâm thực hiện, để các bạn yêu nhạc khắp nơi có một sân chơi âm nhạc thật phong phú, đa dạng. Một nơi chốn bình yên và êm ả, để chúng ta có thể gởi cho nhau nghe những lời yêu thương, ngồi lại gần với nhau hơn, và chia sẻ với nhau những tâm sự rất riêng tư của mình, bằng ngôn ngữ kỳ diệu nhất của nhân loại : ÂM NHẠC, một loại ngôn ngữ không có biên giới... Sydney,tháng 6/2009 NS Hoàng Thanh Tâm

Categories

Pages

Các bài viết nổi bật

Top Clicks

  • None

Flickr Photos

Sol Duc Falls

Back to forest

Prairie Falcon 2016

Starry night

It was snowing !

Northern Flicker (Intergrade)

Northern Pintail descent

It's as Easy as 1-2-3

Dolls clinic.

Superstition Mountains

More Photos

Archives

Blog Stats

  • 22,187 hits

Pages

July 2009
M T W T F S S
« Jun    
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  

%d bloggers like this: